Wednesday, October 22, 2014

VNCH

BIỂU TÌNH CHỐNG CỘNG SẢN NĂM 1956

Tuesday, October 21, 2014

Nobel 2014/E

Nobel kinh tế 2014 và vấn đề quản lý thị trường


Tại sao EVN liên tục kêu lỗ dù người tiêu dùng luôn cho rằng giá điện ở Việt Nam đắt đỏ? Tại sao giá xăng giảm thì ít mà tăng thì nhiều? Tại sao giá sữa ở Việt Nam luôn ở mức cao? Tại sao các nhà mạng có thể đồng loạt tăng giá cước 3G lên 40% hồi tháng 10 năm 2013? Tại sao hệ thống ngân hàng của Việt Nam liên tục ốm yếu? Tại sao các thương lái thường xuyên có thể ép giá nông dân khi thu mua nông sản (đặc biệt là gạo)? Ðây là một vài trong số hàng trăm những câu hỏi mà người tiêu dùng Việt Nam thường xuyên đặt ra. Tiếc rằng hiếm khi, nếu không muốn nói là chưa bao giờ có, câu trả lời thực sự thỏa đáng.

Lý do tại sao? Câu trả lời liên quan rất chặt tới giải Nobel kinh tế của năm nay.

Người nghiên cứu tổ chức thị trường

Người được giải Nobel kinh tế 2014 là Giáo Sư Jean Tirole, năm nay 61 tuổi, và đang là giáo sư tại trường Ðại Học Tolouse 1 (Pháp). Tirole được trao giải không phải vì một công trình nghiên cứu riêng lẻ nào. Thay vào đó, ông được giải vì các đóng góp tích lũy của ông trong suốt 30 năm qua trong một lĩnh vực riêng của kinh tế vi mô có tên “industrial organization,” tạm dịch là tổ chức thị trường hoặc tổ chức ngành, viết tắt là “IO.”

IO là một nhánh tương đối mới của kinh tế vi mô. Giai đoạn “tiền sử” của nó kéo dài đến khoảng cuối thập niên 70 và được khẳng định bởi giải Nobel kinh tế đầu tiên cho ngành này vào năm 1982 (người nhận là Giáo Sư George Stigler). Từ đó tới nay, IO trải qua một thời kỳ bùng phát mang tính cách mạng nhờ sự phát triển chín muồi của các công cụ phân tích đến từ lý thuyết trò chơi (game theory) và kinh tế lượng (econometrics). Giai đoạn bùng phát này của IO mang đậm dấu ấn Jean Tirole, hay nói theo cách của Ủy Ban Nobel: “Cuộc cách mạng này phần lớn là nỗ lực tập thể, nhưng trong số rất nhiều những người đóng góp, Jean Tirole vượt hẳn lên.” Vì lẽ này, ông là nhà kinh tế duy nhất nhận giải Nobel kinh tế 2014, thay vì nhận chung với người khác như những năm gần đây.

Nhưng các nghiên cứu được trao giải Nobel kinh tế năm nay của Jean Tirole nói riêng, và của “nỗ lực tập thể” của các chuyên gia nghiên cứu về IO, có liên quan gì đến những vấn đề mà người tiêu dùng Việt Nam quan tâm? Câu trả lời là rất chặt chẽ.

Trong giai đoạn “tiền sử” của kinh tế học, người ta tin rằng thị trường có những quy luật vận động riêng, và tự nó sẽ có những điều tiết có lợi nhất cho xã hội.

Khái niệm “bàn tay vô hình” được dùng để mô tả động cơ vị lợi của cá nhân sẽ dẫn dắt cá nhân này đến chỗ làm tốt cho xã hội. Thí dụ một doanh nghiệp vì lợi nhuận sẽ phải làm thế nào để bán sản phẩm của mình vừa tốt vừa rẻ thì mới có nhiều khách hàng. Như thế doanh nghiệp kiếm được tiền, và người tiêu dùng cũng được hưởng lợi.


Ðáng tiếc là quy luật này chỉ đúng trong trường hợp “cạnh tranh hoàn hảo” (perfect competition), một trường hợp mang tính lý tưởng trong đó có quá nhiều người mua và quá nhiều người bán, không ai có chút quyền lực nào để can thiệp vào thị trường (thông tin trong thị trường này cũng hoàn hảo và bất cứ hành vi gì của các bên cũng đều được nhận biết). Phần lớn các thị trường thực tế mà chúng ta đối mặt hàng ngày là những thị trường không hoàn hảo cả về khía cạnh cạnh tranh và thông tin. Thí dụ các thị trường như điện, xăng dầu, sữa, viễn thông, ngân hàng... ở Việt Nam kể trên. Với những thị trường dạng này, nguyên lý bàn tay vô hình không còn đúng nữa. Có nghĩa là khi theo đuổi việc kiếm tiền cho mình, doanh nghiệp thường sẽ làm các chiêu trò không hay và gây hại cho người tiêu dùng.

Nếu không biết hoặc không hiểu đúng các quy luật vận động của các thị trường không hoàn hảo kiểu này, không ý thức được các “thủ đoạn” của các doanh nghiệp hoạt động trên các thị trường đó, thì dĩ nhiên các chính phủ sẽ không thể quản lý được chúng. Ngay cả khi hiểu các quy luật này nhưng không biết cách thiết kế ra được các thể chế quản lý đúng thì việc quản lý các doanh nghiệp này cũng vẫn không hiệu quả, và người tiêu dùng vẫn có lý do để “than.”

Ngành nghiên cứu tổ chức thị trường (IO) là một ngành vừa mang tính lý thuyết vừa mang tính ứng dụng đặc biệt cao. Các phân tích của ngành này tập trung rất sâu vào từng thị trường không hoàn hảo đặc thù, phân tích tất cả các trường hợp có thể có, để hiểu các quy luật vận động của chúng, các thủ đoạn của các doanh nghiệp, các mối nguy hại tiềm tàng đến từ việc thiếu sự quản lý hoặc quản lý không đúng. Ngành này cũng nghiên cứu và thiết kế ra các phương pháp quản lý thị trường hiện đại, cho từng loại thị trường (ngành) cụ thể để hỗ trợ các chính phủ trong việc quản lý các thị trường này.

Ðáng tiếc là ngành này hầu như chưa từng tồn tại ở Việt Nam. Các nghiên cứu của thế giới, bao gồm của Jean Tirole chưa được biết đến ở nước ta, và chắc chắn còn lâu mới được áp dụng vào việc quản lý nhà nước đối với các thị trường không hoàn hảo của đất nước. Ðiều đó dẫn tới việc dễ hiểu là các ngành này chưa được quản lý đúng, việc làm ăn kinh doanh trên các thị trường này vẫn ở trạng thái “nguyên thủy” và vì thế việc kêu than của người tiêu dùng là chuyện dễ hiểu.

Nhưng rốt cuộc Jean Tirole đóng góp cụ thể những gì trong 3 thập kỷ qua để khiến ông xứng đáng nhận giải Nobel năm nay?

Ðóng góp lớn

Theo Ủy Ban Nobel, có ít nhất 5 nhóm công trình được ủy ban này đánh giá đặc biệt cao và là cơ sở để họ trao giải. Thứ nhất là các nghiên cứu của ông về các thị trường độc quyền tự nhiên và cách quản lý-điều tiết các thị trường này. Các thị trường, thí dụ như thị trường phân phối điện ở Việt Nam (do EVN độc quyền) là các thị trường đặc biệt quan trọng và cần nhà nước quản lý. Mục đích chính của việc quản lý nhà nước trên thị trường này là nhằm tránh để các nhà độc quyền tùy tiện định giá. Nếu không có quản lý nhà nước, chắc chắn các doanh nghiệp độc quyền này sẽ đưa giá “lên mây” và biến người tiêu dùng thành nạn nhân.

Trên nguyên tắc, có hai công cụ chính để quản lý là (a) xác định tỷ lệ lợi nhuận tối đa cho phép và (b) quy định giá trần. Tuy nhiên, trong từng trường hợp một, làm thế nào để việc quản lý này hiệu quả, tránh được các nguy cơ vô hiệu hóa chính sách, là việc phải nghiên cứu. Tirole và Jean-Jacques Laffont đã tạo ra cuộc cách mạng trên lĩnh vực phân tích này và cho ra đời các công cụ phân tích mới tốt hơn nhiều so với trước để giúp các cơ quan nghiên cứu và lập chính sách có thể đưa ra được các chính sách quản lý tốt hơn.

Nhóm công trình thứ hai được nhắc đến là các nghiên cứu của ông về thị trường “độc quyền nhóm” (obligopoly) - các thị trường mà trong đó có một số ít (nhưng không phải chỉ một) doanh nghiệp hoạt động. Các doanh nghiệp này cạnh tranh với nhau như thế nào qua thời gian để lấy thị phần, duy trì thị phần, và chèn ép các doanh nghiệp khác, các cách họ có thể cấu kết với nhau như thế nào... Các nghiên cứu này trước Tirole đã có, nhưng ông đóng vai trò quan trọng trong làn sóng làm mới các phân tích này, và đi sâu hơn vào một số khía cạnh quan trọng của thị trường độc quyền nhóm. Thí dụ, vai trò của các cuộc chạy đua nghiên cứu và triển khai (R&D) và đầu tư chiến lược (strategic investment) trong việc duy trì vị thế, chiếm lĩnh thị phần, và ngăn chặn đối thủ tiềm năng tham gia vào ngành. Ông cũng là người tiên phong nghiên cứu các xu hướng thị trường mới xuất hiện nhờ công nghệ như hiện tượng tồn tại của các sản phẩm phần mềm mã nguồn mở (thí dụ như Open Office), thị trường quảng cáo trực tuyến (thí dụ cơ chế quảng cáo của Google), hay các thị trường có hiệu ứng mạng (thí dụ thị trường của các nhà cung cấp dịch mạng xã hội), và các thị trường hai mặt (thí dụ như thị trường thẻ tín dụng hay thị trường hệ điều hành máy tính).

Nhóm công trình thứ ba là các khám phá của ông trong chính sách quản lý cạnh tranh (competition policy). Một trong những công việc đặc biệt quan trọng của các chính phủ khi thực hiện quản lý nhà nước đối với thị trường là phải chống độc quyền - tức là ngăn chặn các hành vi của các doanh nghiệp nhằm biến thị trường vốn không phải độc quyền thành thị trường độc quyền để hưởng lợi. Ủy ban Nobel nhắc đến khám phá quan trọng của ông về “liên kết dọc” (vertical integation) giữa các công ty trong cùng ngành. Thí dụ ngành dầu khí được phân ra làm 2 nhóm công ty - các công ty thượng nguồn (upstream) là các công ty khai thác và lọc dầu. Các công ty hạ nguồn (downstream) là các công ty phân phối dầu đến người tiêu dùng cuối cùng. Trong nhiều trường hợp, các công ty thượng nguồn có các mối liên kết với các công ty hạ nguồn.

Vấn đề là nếu có một doanh nghiệp độc quyền ở thượng nguồn hoặc hạ nguồn, thì doanh nghiệp này có thể sử dụng vị thế này để gia tăng vị thế độc quyền ở mảng còn lại - nơi nó không phải là nhà độc quyền. Vì thế các liên kết giữa các công ty thượng nguồn và các công ty hạ nguồn luôn là mối quan tâm của các chính phủ vì mục đích chống độc quyền. Tirole đã góp phần đưa ra nhiều phân tích trong mảng này, và các phân tích của ông góp phần hình thành bộ khung xương giúp các nhà quản lý phân biệt được đâu là trường hợp nên ngăn chặn, và đâu là trường hợp cần phải khuyến khích hoặc cho phép.

Nhóm công trình thứ tư được nhắc đến là các nghiên cứu trực tiếp của Tirole trong một số thị trường trọng yếu như viễn thông, ngân hàng và tài chính. Ông đi sâu phân tích các đặc thù của các ngành này và phát hiện được các hiện tượng/quy luật kinh tế độc đáo trong từng ngành. Thí dụ vấn đề tiếp cận hai chiều trong ngành viễn thông (các hãng viễn thông của các nước hợp tác như thế nào khi có các cuộc gọi từ nước này sang nước kia và họ phải sử dụng hạ tầng viễn thông của nhau), vấn đề quản lý thị trường liên ngân hàng như thế nào trong ngành ngân hàng, vấn đề khởi động lại một hệ thống tài chính bị tê liệt vì khủng hoảng như thế nào trong thị trường tài chính...

Nhóm các công trình cuối cùng được Ủy Ban Nobel nhắc tới là các công trình của Tirole trong các lĩnh vực khác như phát minh ra các công cụ mới trong phân tích lý thuyết trò chơi (game theory) và thiết kế thể chế (mechanism design), nghiên cứu về tính thanh khoản và vai trò của trung gian tài chính trong thị trường tài chính hiện đại, nghiên cứu về bong bóng trên thị trường bất động sản, nghiên cứu về lý thuyết tài chính doanh nghiệp, kinh tế học hành vi, và kinh tế học tổ chức.

Như vậy, theo Ủy Ban Nobel, giải Nobel kinh tế học năm nay trao cho Giáo Sư Jean Tirole không dành riêng cho một công trình nghiên cứu cụ thể nào của ông. Thay vào đó, nó là phần thưởng cho thành tích nghiên cứu đặc biệt xuất sắc của Tirole trong hơn 30 năm qua, trải rộng trên rất nhiều lĩnh vực khác nhau, đặc biệt là lĩnh vực Industrial Organization (tổ chức thị trường). Ðộng cơ để tổ chức này trao giải, như công bố chính thức của Ủy Ban Nobel, là “vì các nghiên cứu của ông trong lĩnh vực quyền lực thị trường và quản lý nhà nước.”

Trần Vinh Dự
@VOA

Monday, October 20, 2014

VNCH

BIỂU TÌNH CHỐNG CỘNG SẢN NĂM 1956

Sunday, October 19, 2014

Nguyễn Cao Quyền


Túi Khôn Của Đặng Tiểu Bình


Trong vòng 2000 năm về trước, Trung Quốc luôn luôn đứng ở đỉnh cao nhất trong thiên hạ về cả hai phương diện kỹ thuật và kinh tế, tài chính. Thế rồi, trong 200 năm gần đây, quốc gia hơn một tỷ người này lại bị xa sút về mọi mặt và dân tộc phải sống trong cảng nghèo khổ cùng cực .


Vào cuối thập niên1980, người ta ghi nhận vẫn còn khoảng 40 triệu dân Trung Quốc phải sống trong hang núi và 1/3 dân cư làng xã chỉ kiếm được khoảng 35 đôla/năm, bằng một bữa ăn tối trung bình của người dân New York, Hoa Kỳ. Tuy nhiên dù sao thì đấy cũng chỉ là câu chuyện của dĩ vãng.
 
Tình trạng nghèo khó nói trên, đã chấm dứt từ năm 1979 khi Đặng Tiểu Bình lên nắm chính quyền và thực hiện cải cách. Từ thời gian này nền kinh tế của Trung Quốc bắt đầu cất cánh với một tốc độ làm chấn động thế giời. Cũng từ thời gian này, Trung Quốc đã trở thành một con rồng lớn, đứng bên cạnh những con rồng nhỏ của Á Châu như Đài Loan, Nam Hàn, Hong Kong, Singapore.

Nền kinh tế Trung Hoa bị khựng lại trong hai ba năm giảm phát, nhưng rồi lấy lại sức, tiếp tục phát triển, và phát triển lẫy lừng từ năm 1992. Trước khi Trung Quốc thực hiện thành công kỳ tích phát triển đó ai cũng nghĩ rằng đây là một việc không thể xảy ra đối với một quốc gia có dân số là 1/5 dân số thế giới, và với một nền kinh tế lạc hậu kém phát triển như nền kinh tế của Trung Quốc.

Tại những vùng phát triển mạnh như những tỉnh tại miền duyên hải phía Đông, chủ nghĩa Mác Xít đã chết hẳn. Tại đây, chính trị đã nhường bước cho kinh tế, và từ hai ba thế hệ nay, áp lực cải cách đã đè nặng lên vai của chính quyền trung ương. Trên bàn cờ chính trị thế giới Bắc Kinh đã dấu nhẹm sự chia rẽ nội bộ, những tham vọng vể đất đai, để làm hòa với thế giới xung quanh, ngõ hầu dồn mọi nỗ lực vào phát triển kinh tế.

Những thành tích phát triển kinh tế đáng được ghi nhận

Sau khi nền kinh tế thị trường được khởi động vào đầu thập niên 1980 thì nền kinh tế Trung Quốc tăng trưởng đều đặn 10%/năm , trừ thời kỳ giảm phát như đã đề cập đến ở trên. Năm 1992, ngoại thương của Trung Quốc đã tăng lên 166 tỷ đô la , nghĩa là Trung Quốc đã trở thành một quốc gia trong những quốc gia có một nền ngoại thương mạnh nhất thế giới. Dự trữ ngoại tệ dẫn đầu, không thua kém gì Nhật Bản.

Trong 12 năm đầu tiên của cuộc cải cách, Trung Quốc tiếp nhận 20 tỷ đô la đầu tư nước ngoài và đây là một khỏan đầu tư nước ngoài lớn nhất trong thời gian đó. Cũng trong năm 1992 Bắc Kinh lại tiếp nhận thêm 47.000 kế họach đầu tư ngoại quốc mới. Thiên hạ bắt đầu choáng váng vì những con số đầu tư chóng mặt này. Lạm phát có tăng, nhưng tăng rất chậm, không bằng một phần trăm ở Ba Lan và ở Liên Xô trong cùng một thời gian

So sánh với nền kinh tế Liên Xô để thấy sự khác biệt

Nhiều người nghĩ rằng Trung Quốc thế nào cũng phải thua kém Liên Xô vì dù sao Trung Quốc cũng chỉ là một mẫu hình cóp nhặt của Moscow. Trên thực tế thì điều trái ngược đã xảy ra. Xảy ra là vì Trung Quốc đã theo đường lối phát triển của Nam Hàn chứ không theo đường lối phát triển của người anh em Bon Sê Vích.

Đặng Tiểu Bình đã không theo Moscow mà, trái lại, đã rập khuôn sự phát triển của bốn con tiểu long Đông Á là Nam Hàn, Đài Loan, Hong Kong, Singapore. Ta thử đi sâu vào hai khía cạnh kinh tế và chính trị xem sao.

Thứ nhất : Về phương diện kinh tế
Theo gương các nước NIE (New Industrializing Economies) Bắc Kinh dành ưu tiên cho những công nghiệp và khu vực mà ở đó vốn đầu tư của chính phủ rất ít nhưng lợi tức mang lại rất nhiều, chẳng hạn như trả lại trang trại cho trại chủ và đất đai cầy cấy cho nông dân và cho họ tự do buôn bán trong nền kinh tế thị trường. Bên cạnh đó là chính sách chiêu dụ đầu tư nước ngoài với những đạo luật dễ dàng về mọi mặt. Sau hết là giúp đỡ vốn cho nhữnh ngành công nghiệp nhẹ và trung để họ có thể phát triển nhanh chóng. Các ngành kỹ nghệ như vải, giầy dép, đồ chơi với giá rẻ, tập trung đề xuất cảng nhằm kích động sự tiêu thụ toàn cầu, đã mang lại cho nền ngoại thương Trung Quốc những khỏan lợi tức chưa từng thấy.

So với Liên Xô có sự khác biệt nào? Liên Xô không mấy chú trọng đến ngoại thương và công nghiệp nhẹ, mà chỉ chú trọng đến công nghiệp nặng. Lúc Gorbachev lên cầm quyền thì chỉ hô hào phát triển công nghiệp nặng và kỹ thuật cao. Tất cả những thứ này đều là những thứ đòi hỏi số vốn đầu tư lớn. Đây là những lời căn dặn của Marx mà Gorbachev vẫn chưa quên được và cũng không có sáng kiến để làm khác.

Kết quả là chiến lược phát triển của Liên Xô đã thất bại. Các nước tân dân chủ như Ba Lan, mà theo sát chân Liên Xô cũng thất bại. Gorbachev đã lầm lẫn và một số nước Đông Âu mới dân chủ hóa cũng gặp phải cảnh ngộ khó khăn sơ khởi đó.

Sự khác biệt là ở chỗ : công cuộc cải cách của Đặng Tiểu Bình là chiều theo ý muốn và nhu cầu của người dân, khởi phát từ lòng dân, trong khi cuộc cải cách của Gorbachev lại là những lệnh khởi phát từ trên xuống, từ những sai lầm của lãnh đạo mà người dân chưa bao giờ mong muốn và nhìn nhận.

Một việc tương tự cũng đã xảy ra tại Trung Quốc từ thời Mao Trạch Đông trong cuộc Cách Mạng Văn Hóa. Một đằng có thể ví như một chiếc máy bay đang cất cánh, còn đằng kia là chiếc tầu ngầm đang trên đà lặn xuống biển sâu.

Chiến lược phát triển của Đặng Tiểu Bình đã cung cấp ngay hàng triệu công ăn việc làm cho một đám dân chúng thất nghiệp hay bán thất nghiệp. Họ là những người cần có công ăn việc làm nhất, và đợt đầu tư sơ khởi này đã tạo ra một sức mua lớn mạnh như chưa bao giớ thấy trong nền kinh tế của đất nước. Cứ thế, sức mua này lớn dần và lan tràn sang các lãnh vực khác của nền kinh tế quốc gia.

Đợt cải cách nông nghiệp của Đặng Tiểu Bình đã nâng cao lợi tức của nông đân lên gấp đôi trong một thời gian rất ngắn và đã được sự ủng hộ của 800 triệu nhân dân Trung Quốc. Tiếp theo Đặng lại ra tay giúp đỡ và tạo điều kiện cho đám doanh nhân cỡ nhỏ và trung bình “cất cánh”. Trong nhóm này, lẽ cố nhiên lả có kẻ thắng người bại, nhưng những người thắng đã trở thành những doanh nhân năng động và ưu tú nhất của đất nước. Đặng cũng đồng thời gỡ bỏ những ngăn cấm lỗi thời trong hệ thống tài chính, gửi sinh viên ra nước ngoài học hỏi, và bãi bỏ lệnh ngăn sông cấm chợ ở trong nước.

Với tất cả những hành động hợp thời hợp thế nói trên Đặng đã thu phục được dưới trướng những nhóm người ưu tú đông đảo nhất ủng hộ. Cho nên không lạ gì, sau biến cố Thiên An Môn, khi bị thế giới cấm vận, Đặng vẫn đứng vững vì những nhóm người ủng hộ này vẫn còn đó. Ngay cả những nhóm trong quân đội cũng vẫn kiên trì đứng sau hỗ trợ Đặng mặc dầu các ngân khỏan chi tiêu cho sự lớn mạnh của quân đội đã bị Đặng cắt giảm rất nhiều.

Trái lại, bên Liên Xô trong cùng một thời gian, cuộc cải cách của Gorbachev theo lời răn dạy của Lenin vẫn không làm cho nền kinh tế nhúc nhích. Nông dân nói chung, vẫn chểnh mảng và lơ đãng như dưới thời Stalin. Công nhân càng ngày càng bất mãn vì thấy đồng lương của họ bi giảm sụt. Doanh nhân thì sống “ngất ngư” vì lợi tức kiếm được, không những rất khó khăn mà còn dần dần nhỏ hẹp lại. Quân đội không tin tưởng vì thấy vũ khí của họ không được hiện đại hóa nhanh bằng vũ khí của phương Tây. Có thể nói Gorbachev đã thất bại, và Liên Xô đã sụp đổ vì sự thất bại đó.

Trung Quốc đã phát triển nhanh chóng và lẫy lừng vì Đặng Tiểu Bình đã khôn ngoan nhận ra rằng muốn thành công thì phải đi theo mấy con “tiểu long Á Châu” vì Trung Quốc chính là một phần của vùng đất Á Châu đang trên đà phát triển này.

Đặng đã nghiên cứu và đã thấu triệt những bài học kinh tế chính yếu mà các nước đàn em xung quanh đã mang lại. Đặng đã hiểu được vai trò của doanh nhân trong thời hiện đại, hiểu thế nào là thị trường tài chính, thế nào là kỹ thuật cao, thế nào là những tương tác mậu dịch mới trên địa bàn thế giới. Đặng đã học được những thứ đó từ hai vùng đất tư bản có tên là Hong Kong và Đài Loan.

Trên đà phát triển của chúng, bốn con tiểu long Châu Á đã giúp Trung Quốc phát triển theo bằng cách mang vào Trung Quốc những xí nghiệp khao khát đất đai và nhân công rẻ. Đi tìm nhân công rẻ, họ đồng thời cũng mang vào Trung Quốc những tương quan mậu dịch quốc tế và những kỹ thuật cạnh tranh hiện đại cho Trung Quốc.

Thứ hai : Về phương diện chính trị
Về phương diện chính trị, nguyên tắc “một quốc gia hai chế độ” cũng đã đóng góp vào tiến trình phát triển rất nhiều. Nguyên tắc này là một chính sách ngoại giao khôn khéo của Đặng Tiểu Bình, đưa ra sau biến cố Thiên An Môn. Sau biến cố này Trung Quốc đã bị thế giới cô lập và nền kinh tế củ Trung Quốc đã khựng lại không phát triển theo những con số mong muốn.

Trước viễn tượng nguy hiểm đó, Đặng sửa sai bằng cách thay đổi chính sách ngoại giao để vừa lấy lại sự tín nhiệm của thế giới vừa lợi dụng được sự hợp tác của những vùng đất có một chế độ chính trị khác biệt như Hong Kong, Macao và Đài Loan. Những vùng đất này đã trở thành trung gian hợp tác giữa Trung Quốc và thế giới bên ngoài, giúp cho nền kinh tế của Trung Quốc nhanh chóng hiện đại hóa và phát triển đều đặn không đứt quãng.

Bằng nguyên tắc “một quốc gia hai chế độ” Đặng Tiểu Bình đề nghị : tất cà những vùng mới thu hồi độc lập như Hong Kong (1997) Macao (1999) và Đài Loan, tuy đều thuộc chủ quyền của Bắc Kinh, nhưng vẫn có thể giữ lại chế độ chính trị tư bản mà họ muốn thêm 50 năm nữa. Riêng Đài Loan còn có thể giữ lại cả quân đội của họ. Chỉ có các vấn đề đối ngoại và an ninh là phải do Bắc Kinh phụ trách.

Khi nguyên tắc này được mang ra áp dụng thì cả ba khối dân chúng tại Hong Kong, Macao và Đài Loan đều đồng thanh phản đối vì sợ bị Bắc Kinh đánh lừa. Mặc cảm sợ bị đánh lừa nặng nhất ở Hong Kong vì trong thời gian Thiên An Môn, Hong Kong đã hỗ trợ tài chính cho các phần tử ly khai tại lục địa, giúp họ ra vào Trung Quốc một cách bí mật, tuyên truyền yềm trợ hành động của họ và, đặc biệt hơn cả, nhóm của lãnh tụ ly khai Martin Lee còn công khai kêu gọi lật đổ chính quyền Bắc Kinh.

Tuy nhiên, trước những hành động nói trên, phản ứng của Bắc Kinh rất từ tốn. Họ chỉ ưa ra những bản văn “phản đối” rất hòa bình nhắc lại những cam kết mà hai bên đã thỏa thuận. Bên cạnh những phản đối viết này, không hề có một sự đe dọa trừng phạt nào, hoặc một sự trả đũa nào khác.

Thời gian trôi đi và dưới con mắt quan sát vô tư của thế gới bên ngoài thì Bắc Kinh đã giữ đúng lời hứa. Sự hỗ tương tín nhiệm tăng dần và đã đưa đến việc cả hai bên cùng hỗ trợ tài chính cho công ty phát triển giao thông PADS (Port and Airport Develop-ment Scheme) xây dựng một chiếc cầu dài nhất và tốn kém nhất thế giới nối liền Hong Kong với lục địa. Một phi trường mới cũng được công ty PADS xây dựng trong cùng một thời gian.

Giao thông liên lạc giữa Hong Kong và lục địa tở nên xầm uất và phồn thịnh. Tiền đầu tư nước ngoài chảy vào Trung Hoa như thác đổ và nền kinh tế cùa xứ này phát triển nhanh chóng và lẫy lừng như chưa bao giờ xảy ra trong lịch sử.

Công việc Đài Loan và Bắc Kinh xích lại gần nhau thì gặp nhiều khó khăn hơn. Trước thập niên 1970 lãnh đạo của hai bên nhìn nhau như những tội phạm chiến tranh cần tiêu diệt. Giao thông và giao thương qua eo biển Đài Loan bị tuyệt đối cấm chỉ. Pháo binh lục địa thi nhau nã đạn thường xuyên vào hai hòn đảo nhỏ che chở Đài Loan là Kim Môn và Mã Tổ.

Khi Đài Loan bắt đầu đợt cải cách chính trị đầu tiên thì Bắc Kinh đưa ra đề nghị “một quốc gia hai chế độ”. Taipei từ chối ngay lập tức, không thắc mắc và cũng không suy nghĩ. Nhưng rồi qua thời gian sự căng thẳng giữa đôi bên gỉam dần cường độ. Đài Loan không thể thờ ơ mãi với những cơ hội làm ăn “ngàn năm một thuở” với Bắc Kinh. Những cuộc đi lại giữa đôi bên qua ngả Hong Kong tăng dần khi pháo binh Trung Quốc thôi nhả đạn sang đảo quốc.
Năm 1989 Giám Đốc Ngân Hàng Trung Ương Đài Loan đến Bắc Kinh họp hội nghị các ngân hàng phát triển Á Châu. Năm 1992 tỷ số doanh thương giữa Đài Loan và lục địa đạt tới những mức “nóng” nhất thế giới: ngoại thương lên tới 7 tỷ Mỹ Kim, đầu tư của Đài Loan vào lục địa lên tới con số 8.4 tỷ, với 7.500 kế hoạch.

Những công nghiệp không cần kỹ thuật cao như giầy dép, quần áo, đồ chơi trẻ em thi nhau vượt eo biển vảo lục địa. Giữa các năm 1987-1992, 3 triệu du khách Đài Loan mang tiền và kiến thức thời đại vào phổ biến trên đất nước Trung Hoa. Đây là con số kỷ lục như chưa bao giờ thấy trong quan hệ giao thông và giao thương giữa hai bên.

Tiềm lực phát triển của Đài Loan mang vào Trung Quốc bắt đầu lớn hơn tiềm lực của Hong Kong. Sự tiến bộ của Đài Loan từ một chế độ gần như toàn trị sang một chế độ độc tài, rồi sang một chế độ chuyên chính lỏng lẻo, rồi sang một chế độ dân chủ đã hấp dẫn dân chúng lục địa, và họ gọi đó là “diễn biến hòa bình”.

Ngọn lửa doanh thương và đầu tư đến từ Hong Kong và Đài Loan hiện nay đang lan dần trên khắp lục địa Trung Hoa và không ai dập tắt được. Chất cháy đổ vào ngọn lửa đó là giá đất đai và nhân công rẻ, cộng với tay nghề cao và sự chăm chỉ của giai cấp công nhân trẻ tuổi. Tiền đầu tư, kỹ thuật tiên tiến và những kiến thức về thị trường hiện đại của Đài Loan và Hong Kong là dưỡng khí làm cháy ngọn lửa rừng khó tắt đó.

Sự hợp tác giữa Trung Quốc và một số nước Á Châu-Thái Bình Dương đã dẫn nhân loại sang một con đường mới, nhưng không phải là con đường phát triển cộng sản. Đặng Tiểu Bình đã chọn thống nhất đất nước bằng một cái đầu nguội, nhẫn nại và thông minh. Thay vì dùng kinh tế Mác Xít, Đặng đã dùng thời gian để chuyển hóa chế độ, đã lấy lại tín nhiệm của thế giới khi thấy sự tín nhiệm đó là cần thiết.
 
Tập Cận Bình khi mới “lên ngôi” đã trông thấy ở Đặng một “vĩ nhân” của thời đại và muốn bắt chước đi theo con đường khôn ngoan đó. Lộ trình còn lại vào lúc này là làm sao dẫn dắt được dân tộc Trung Hoa tiến sang chế độ “dân chủ” một cách hòa bình. Làm sao giải quyết được một cách êm đẹp ngọn lửa dân chủ hiện đang bốc cháy ở Hong Kong và đừng để Hong Kong biến thành một Thiên An Môn thứ hai của Trung Quốc.
 
Nguyễn Cao Quyền
Tháng 10 năm 2014

Saturday, October 18, 2014

BS. Hồ Ngọc Minh

Ngổn ngang trăm thứ

Con gái tôi, từ thuở nằm nôi, lúc nào cũng có một con gấu nhồi bông bên cạnh. Lớn lên, đi đâu, cháu cũng đem theo con gấu nay đã “già” ấy. Vợ chồng tôi thường đùa, mai mốt lấy chồng, đem theo con gấu làm của hồi môn.
 
Con người ta, tự bản năng, sanh ra đời đã có tư tưởng sở hữu. Tiếp theo, qua quá trình sống còn của loài người, những vật dụng thu thập được đã góp phần vào sự tồn vong của cá thể, của gia đình, và của nhân loại. Vì thế xưa nay sự sở hữu vật chất gần như đồng nghĩa với sự an toàn, với niềm hạnh phúc, và là những cột mốc định vị cho sự hiện hữu của mỗi cá nhân trong cuộc đời.
 
Nghiên cứu cho thấy, khi bị lấy đi một món đồ nào đó, não bộ của khổ chủ sẽ chịu những tín hiệu đau đớn như khi bị kim châm, điện giựt. Đồng thời nhiều nghiên cứu khác còn cho thấy đi mua sắm, một khi đã được sờ nắm vào một mặt hàng nào, 60% người tiêu thụ sẽ bỏ tiền ra để mua cho được món hàng ấy. Mua xong, cảm giác kích hoạt trong hệ thần kinh rất phê như phê thuốc phiện, và khi hết phê thì… đi mua tiếp. Đó là một trong các lý do tại sao công ty Apple làm ăn khấm khá vì một khi đã rờ, đã cọ quẹt, đã “touch” vào các thiết bị như iPhone, iPad thì mọi người sẽ sẵn sàng “iPay.” Thêm vào đó, chủ thuyết kinh tế thị trường, nhất là ở Mỹ, cổ võ cho việc mua sắm để làm cho kinh tế thêm giàu mạnh. Các thông điệp khuyến mãi gieo vào đầu người tiêu thụ niềm tin là, mua sắm đồ sẽ đem lại niềm vui và phúc lợi.
Sự thật có phải như thế hay không?
 
Có một mệnh đề cần biết, mỗi một món đồ mà bạn làm chủ, chính nó sẽ làm chủ bạn từ tinh thần đến thể xác. Thí dụ bạn có một cái đồng hồ đeo tay để xem giờ. Khi sắm cái đồng hồ thứ hai, trong tâm thức của bạn có thể là “để kiểm soát được thời gian”, hay bất cứ lý do nào khác được dùng để biện minh, có khi nào bạn chạnh lòng nghĩ là mình sẽ tốn thì giờ thêm để “lo” cho cái đồng hồ thứ hai này hay không? Nhìn quanh nhà bạn sẽ thấy trăm thứ ngổn ngang khác từ nhỏ đến lớn, từ cái đinh cho đến cái ti vi, từ trong tủ áo, từ phòng ngủ, từ nhà bếp ra đến nhà xe. Những thứ ấy sẽ tạo ra trăm mối tơ vò trong đầu của bạn, vì ngày đêm lo nghĩ đến chúng, để giữ của, và có khi, để lấy thân ra mà che của. Một nghiên cứu y khoa khác cho thấy, lo nghĩ nhiều thứ linh tinh sẽ gây ra phiền muộn kinh niên và làm cho lớp chất xám của não bộ mỏng đi. Một nhận xét khác được thống kê xác nhận, ai cũng biết mà cứ làm lơ, đó là, không cần phải giàu, có nhiều đồ “xịn”, đồ “khủng” trong nhà mới có hạnh phúc.
 
Ngày xưa người ta mua sắm vì nhu cầu thiết yếu. Cái xe đi làm, cái ghế để ngồi. Ngày nay mua sắm đồ là cách để biểu hiệu cá tính, sắc thái, tư duy, địa vị xã hội của một cá nhân. Tại sao phải là Coke mà không là Pepsi? Điệu ,“xì tin”, và “bản sắc” là ở điểm khác nhau giữa Samsung Galaxy và iPhone, vân vân và vân vân.
 
Trong phim khoa học viễn tưởng “In Time” do tài tử Timberlake thủ vai chính, miêu tả một xã hội mà tuổi thọ con người là đơn vị tiền tệ để đổi chác. Lương bổng được trả bằng tuổi thọ. Mua ly cà phê thì tuổi thọ bị trừ đi vài giờ. Hết “tiền” thì lăn ra mà chết. Nhìn lại, chúng ta hiện đang sống trong cái xã hội “tưởng chừng như viễn tưởng xa xăm” ấy. Chúng ta dùng thời gian quý báu của cuộc đời để đi làm ra tiền, để tậu đồ junk, đồ linh tinh, đồ rác rưởi, rồi tốn thêm thời gian để lo lắng, để “take care” cho những món đồ ấy. Có iPhone thì phải text, phải lướt mạng, phải đọc tin trên mạng xã hội 24/7. Tệ, có người còn bán cả trái thận để đổi lấy cái iPhone!
 
Nói đúng ra không phải ai cũng thích lòe hàng “khủng”. Phần lớn chúng ta mua sắm và để dành đồ để lỡ khi cần, thí dụ, 12 cục xà bông tắm ở Costco vì “không thể thiếu được”, nguyên thủy vì chúng ta…nghèo. Có cả tôi trong đó. Khoảng năm 1970, ngoài làng Non Nước, Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng có một hầm rác của quân đội Mỹ, gọi là “Hầm Bứa Mỹ Thị”. Từ cái hầm bứa này, tôi tha về nhà không biết bao là “của quý”. Thói quen ấy tồn tại đến bây giờ, tiếp tục tha đồ ở Costco, ở Amazon về hằng tuần, để lỡ khi cần. Mà khi cần lại không biết đồ ấy nhét vào góc nào, nên thôi, chạy ra mua cái khác, và mua dư thêm một tí… để lỡ lại khi cần!
 
Một lý do khác người ta giữ đồ cũ vì nó chứa những kỷ niệm đẹp nào đó. Thú thật, một mớ sách vở Y Khoa tôi học khi còn trong trường Y hơn 30 năm về trước vẫn còn trong tủ, cho dù có khi nào tôi đọc lại một chữ nào trong những cuốn sách ấy đâu! Mà có đọc thì chả ích lợi gì vì kiến thức khoa học ngày càng thay đổi. Bỏ sách vở ra thùng rác thì thương, mà vương vấn thì tội.
 
Đọc tới đây bạn đã hiểu tôi không nói chuyện phiếm mà nói về một chứng bệnh mà nhiều người bị mắc phải. “Chứng bệnh thời đại” thường xảy ra ở các nước gọi là “văn minh tiên tiến”. Chứng bệnh nầy làm hại đến sức khỏe, đến tuổi thọ của chúng ta, không thua gì ung thư, cao máu, tiểu đường. Nếu hiểu căn nguyên của tội tình, của hồ sơ bệnh lý, thì chúng ta nên bắt đầu tự chữa cái bệnh gọi là “sưu tập đồ lộn xộn”. Để tự giải thoát khỏi những gông cùm trói buộc mình vào “giai cấp của người tiêu thụ”, xin đem đồ không cần dùng cho người khác, đem cho chùa, cho nhà thờ, cho hội từ thiện .v.v..
Không muốn cho thì bán eBay làm lợi cho mình, cho nền kinh tế, đem tiền gửi về cho bà con bên nhà chẳng hạn. Món đồ nào có nhiều kỷ niệm thì chụp hình lưu niệm, rồi cũng đem cho, đem bán, đem recycle để chúng được “siêu thoát” và mình cũng được “tịnh độ” theo. Đồng thời, mỗi khi mua đồ mới thì nên nghĩ “rằng, thì, là” món hàng ấy mình sẽ trả không phải bằng tiền, kể cả tiền không có, mà sẽ trả với chính sức khỏe và tuổi thọ của mình về sau.
 
Nhạc sĩ Anh Bằng có một bài nhạc “không Anh Bằng” tí nào, đó là bài “Khúc Thụy Du” phổ thơ của Du Tử Lê: “…nói về cuộc đời, khi tôi không còn nữa. Sẽ lấy được những gì về bên kia thế giới ngoài trống vắng mà thôi?” Chúng ta đã nhiều lần “bỏ của chạy lấy người”. Chúng ta đến trong đời tay trắng và sẽ ra đi trắng tay. Xin hãy để thời gian quý báu để mà sống và sống thật nhẹ nhàng.
 
LTS: Bác Sĩ Hồ Ngọc Minh được biết trong cộng đồng người Việt nhiều năm qua với chuyên khoa về hiếm muộn, vô sinh, và lựa chọn trai gái theo ý muốn. Ông đã từng làm nghiên cứu về bệnh hiếm muộn, và các bệnh ung thư của phụ nữ tại National Cancer Institute trực thuộc National Institutes of Health. Bác Sĩ Minh là Board Certified về Obstertrics, Gynecology và Reproductive Endocrinology Infertility. Phòng mạch tọa lạc trong khuôn viên bệnh viện Fountain Valley, tại 11180 Warner Ave., Suite 465, Fountain Valley, CA 92708. Số phone liên lạc: (714) 429-5848, trang nhà: www.bacsihongocminh.com

 
BS. Hồ Ngọc Minh
@
bacsihongocminh

Friday, October 17, 2014

South Korea

Hàn Quốc

South Korea FlagThập niên 60, Hàn Quốc là 1 trong những nước nghèo đói nhất châu Á. Năm 1968, người Hàn quyết định thay đổi giáo dục bằng cách bê nguyên sách giáo khoa của người Nhật về dịch sang tiếng Hàn và giảng dạy, ngoại trừ các môn xã hội như địa lý, lịch sử và văn học. Lúc đó cũng có nhiều người chỉ trích vì tính sĩ diện của người Hàn Quốc rất cao, lẽ nào lại không tự soạn được một bộ sách giáo khoa. Nhưng họ vẫn quyết tâm thực hiện, vì để có chương trình giáo dục đó, người Nhật đã mất cả trăm năm cải biên từ cách đào tạo của giáo dục phương Tây phù hợp với đặc trưng châu Á, bắt đầu từ thời Minh Trị Thiên Hoàng. Để rút ngắn thời gian, chẳng có cách nào ngoài việc lấy kinh nghiệm của người khác, để còn lo việc khác nữa. Vì Hàn Quốc muốn trở thành một bản sao mới của Nhật, nền kinh tế dựa trên lòng tự hào dân tộc, tính kỷ luật và đạo đức của toàn thể xã hội.


Đúng 20 năm, đến 1988, Hàn Quốc đăng cai Olympic Seoul, cả thế giới không ai tin vào mắt mình khi thấy kỳ tích bên bờ sông Hàn lại khủng khiếp như thế. Ô-tô, xe máy, dệt nhuộm, hoá chất, đóng tàu, điện tử, bánh kẹo...bên Nhật có cái gì thì bên này có cái đó, dù dân số chỉ bằng 1/3. Không ai biết trong 20 năm đó, cả dân tộc Hàn Quốc đã nắm chặt tay với quyết tâm thoát nghèo như thế nào. Trên tivi chỉ có 2 chương trình là "dạy làm người" và "dạy làm ăn", từ cái văn minh nhỏ xíu như nụ cười của một nhân viên bán hàng, đến cách quản lý chi phí của một quán cà phê, đến cách tạo dựng một nhà máy. Từ một dân tộc "xin việc", tức các doanh nghiệp nước ngoài đến đặt nhà máy tại Hàn và thuê lao động Hàn, Hàn Quốc bắt đầu khan hiếm lao động và trở thành dân tộc đi "cho việc", tức xây dựng các nhà máy ở nước ngoài và hàng triệu người Trung Quốc, Thái Lan, Philippines đứng xếp hàng xin các ông chủ Hàn Quốc cho họ việc làm. Hàn Quốc đã thành công trong việc tiếp nối Nhật Bản thành dân tộc đi cho việc người khác.

Năm 1988, pháo hoa thắp sáng 2 bờ sông Hàn, người Hàn Quốc ôm nhau và cười trong nước mắt, hơn 100 quốc gia giàu có nhất trên thế giới miễn visa cho họ, Hàn Quốc giờ đây đã bước chân vào nhóm 24 quốc gia thịnh vượng nhất loài người. Nhưng thách thức mới lại xuất hiện, vì bây giờ không phải là Nhật Bản nữa, mà là Hồng Kông và Singapore, 2 cực hút nam châm của cả châu Á về tài chính, thương mại và giải trí. Phim Hồng Công tràn ngập thị trường và không có đối thủ. Người Hàn tuyển chọn ngay 2000 sinh viên ưu tú nhất, cử sang Holywood, điên cuồng học hành, từ đạo diễn, diễn viên, phục trang đạo cụ ...4 năm sau tốt nghiệp, năm 1992, những bộ phim Hàn Quốc đầu tiên ra đời như : Cảm xúc, mối tình đầu, hoa cúc..với một thế hệ diễn viên đẹp từng milimet và hợp nhãn người châu Á. Ngành làm phim phối hợp với ngành thời trang, mỹ phẩm và hàng tiêu dùng, bắt đầu xâm nhập vào các thị trường. Đại sứ quán Hàn Quốc tại các nước có nhiệm vụ dịch thuật ra tiếng địa phương và tặng không cho các đài truyền hình, tạo ra làn sóng Hanluy nổi tiếng. Người Nhật điên cuồng, người Trung Quốc điên đảo, các nước Đông Nam Á thì chỉ biết ụ pa ơi, ụ pa hỡi. Phim Hồng Kông bị đá văng ra khỏi thị trường cho thuê băng đĩa.

Năm 1988, ngoài 2000 người đi Holywood để xây dựng công nghiệp điện ảnh, ngần ấy người được cử đi Milan và Paris để học về thời trang, mỹ phẩm. Các tập đoàn như xe Kia, Samsung, Hyundai còn thuê cả ê-kip thiết kế của các hãng xe Đức như Mercedes, BMW làm việc cho họ, với tham vọng xuất khẩu xe sang Mỹ và châu Âu. Muốn bán cho Tây thì bao bì nhãn mác phải có óc thẩm mỹ của Tây, chứ kiểu" tròn tròn xinh xinh" của dân châu Á, tụi Tây không thích, không bán được. Có những năm, những mẫu xe của Hyundai bán chạy nhất ở Bắc Mỹ và châu Âu. Người Mỹ bắt đầu nhìn người Hàn với ánh mắt khác, ngưỡng mộ và ngạc nhiên, thích thú.

Ngoài ra, những sinh viên giỏi toán nhất được hướng theo ngành tài chính ở các đại học lớn ở Mỹ, với tham vọng Seoul thành một London, New York. Các quỹ đầu tư ra đời, tự tìm kiếm các nhà máy mới khởi nghiệp be bé để rót tiền vào, tham gia vào quản trị. Không chỉ trích, chỉ góp sức góp trí để xây dựng. Một người Hàn giàu có là cả dân tộc Hàn giàu. Hệ thống bán lẻ Lotte phải có nghĩa vụ mang hàng hoá Hàn đi khắp nơi, ông lớn Samsung bắt đầu tuyển dụng những sinh viên giỏi nhất châu Á về cho học bỗng thạc sĩ miễn phí với điều kiện tốt nghiệp xong phải mấy năm phục vụ cho họ. Họ gom trí tuệ của cả châu Á để chinh phục thị trường điện thoại thông minh và máy tính bảng, cạnh tranh đối đầu với Apple, đối đầu với cả một tập thể trí tuệ thung lũng Silicone, cứ như Airbus của châu Âu cạnh tranh với Boeing vậy.

Người Hàn Quốc, dù dân thường hay sếp lớn, tất tần tật mọi thứ họ dùng phải Made in Korea, dù lúc sản phẩm kém cỏi còn xấu xí và đầy lỗi của thập niên bảy mươi hay hiện đại tinh xảo như bây giờ. Nếu người tiêu dùng không ủng hộ sản phẩm nhem nhuốc của thời khởi nghiệp, thì doanh nghiệp còn tồn tại đâu mà có sản phẩm tinh xảo sau này?

Tony nhớ lần đi Hàn đầu tiên, mùa thu năm 2005, bà chị ở VN cẩn thận ghi tên mấy nhãn hiệu mỹ phẩm ưa thích của chị ấy cho mình mua giùm. Ở cửa hàng mỹ phẩm, cô bán hàng mặc bộ váy veston đen, chạy như bay lấy hết sản phẩm này đến sản phẩm khác cho Tony xem, đều là của Hàn cả. Do tiếng Anh không nói tốt nên cô cứ giải thích bằng tiếng Hàn đến lúc giọng khàn đặc. Đến lúc Tony lấy tay chỉ hộp phấn Lancom, thì cô thất vọng oà khóc. Cô khóc vì cô đã không thành công khi tình yêu nước của cô không thuyết phục được khách hàng. Tony nhìn cô ấy sững sờ, lẽ nào chỉ là 1 cô gái bán hàng bình thường mà có lòng yêu đất nước mãnh liệt thế sao? Tony thôi bèn mua mấy hộp mỹ phẩm của Hàn, dù chẳng biết có tốt không, vì kính phục quá. Lúc Tony bước ra khỏi cửa hàng, ngoái lại vẫn thấy cổ gập đầu cung kính.


Ngoài phố, gió bắt đầu lạnh, từng tốp học sinh chạy tập thể dục rầm rập trên vỉa hè, những chiếc áo khoác thêu cờ quốc gia ở sau lưng. Và Tony biết, sau lưng của mỗi công dân luôn là tổ quốc.


@internet

China

Truyền thông Mỹ:
 Kinh tế Trung Quốc có thể sụp đổ nay mai




Trong bài viết "Nợ của Trung Quốc: Lỗ thủng quốc gia", tạp chí danh tiếng The Economist khẳng định rằng nợ của Trung Quốc đã đến mức báo động và có thể nền kinh tế này sẽ gặp nguy ngập trong nay mai.

Tuần trước, Quỹ tiền tệ quốc tế IMF tuyên bố rằng Trung Quốc đã trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới nếu tính GDP theo sức mua tương đương.

Nhưng theo các chuyên gia của tạp chí The Economist, thì "danh hiệu" số 1 này không phải là một thứ hứa hẹn. Họ phân tích rằng "nợ của Trung Quốc là thứ ít được tìm hiểu nhất" trong bức tranh kinh tế toàn cầu và nó cần được tính đến khi xét về tương lai của nền kinh tế Trung Quốc.
Nền kinh tế phát triển quá nóng của Trung Quốc đã tạo ra những khoản vay khổng lồ. Nợ của cả nước, bao gồm nợ của chính phủ, công ty và hộ gia đình, đã vượt quá GDP từ năm 2008, và hiện nay đã  đạt mức 250% tổng thu nhập quốc dân.

Số nợ đáng báo động này có thể "biến hệ thống tài chính của Trung Quốc thành một cái xác biết đi" - theo nhận định của The Economist. Tờ báo nhắc lại thảm kịch của các hệ thống tài chính lớn trên toàn cầu đã từng đổ vỡ vì phát triển nóng nhờ vay nợ ra sao: Nhật Bản và Hàn Quốc trong thập kỷ 90, Anh và Mỹ năm 2008.

 Tốc độ tăng GDP (màu đỏ) và tỷ lệ nợ/GDP của Trung Quốc (màu xanh) từ 2003 đến nay. Nợ đã gần đạt 250% GDP.

Trên thực tế, chính phủ Trung Quốc đã phải đặt ra bài toán đối phó với nợ xấu từ năm 2010, nhưng đến nay hiệu quả thu được là chưa cao. Tuy nhiên, The Economist cho rằng nền kinh tế vẫn chủ yếu là các thành phần nhà nước - từ ngân hàng đến doanh nghiệp - có thể giúp chính phủ nước này nhanh chóng đưa ra sách lược ứng phó nếu tình trạng nợ xấu đi.

Hãng phân tích tài chính Bloomberg trong hôm qua trích dẫn ý kiến của các chuyên gia kinh tế chuyên theo dõi Trung Quốc, còn cho rằng sở dĩ Trung Quốc leo lên vị trí nền kinh tế số 1 thế giới là nhờ "tính sai". Họ không tính các khoản nợ xấu vào GDP.

Trong bài viết "Phép tính sai khiến Trung Quốc trở thành số 1" trên trang phân tích của Bloomberg, cây viết Noah Smith đưa ra ví dụ: Nếu một ngân hàng Trung Quốc cho một doanh nghiệp vay 100 USD, nhưng sau đó doanh nghiệp này chỉ dùng nó để sản xuất ra 80 USD, thì phép tính không phải là Trung Quốc lỗ 20 USD mà là ngược lại, tính 80 USD được tạo ra, còn ngân hàng sẽ hoãn nợ, đảo nợ cho doanh nghiệp.

Phép toán này là sai hay không vẫn còn đang gây tranh cãi trong giới chuyên gia kinh tế. Nhưng rõ ràng là Trung Quốc có lý do để lo ngại với khoản nợ khổng lồ họ đang gánh trên lưng.

Phong Huyền
@internet