Friday, July 31, 2015

Bốn nguyên nhân có thể dẫn đến chiến tranh Việt Nam-Trung Quốc


Trong bài “Trung Quốc có đánh Việt Nam?” đăng kỳ trước, tôi nêu lên bốn lý do chính khiến tôi đi đến kết luận là Trung Quốc sẽ không tấn công Việt Nam bằng các biện pháp quân sự. Xin nói ngay: đó chỉ là một sự suy đoán. Lịch sử, nhất là lịch sử chiến tranh, nhiều lúc đi ra ngoài, có khi ngược hẳn lại, lý trí con người. Vào ngày 7 tháng 7 năm 1937 khi Nhật Bản xâm lược Trung Quốc hay ngày 1 tháng 9 năm 1939 khi Ðức tấn công Ba Lan, rất hiếm người xem đó như là những bước khởi sự cho chiến tranh thế giới lần thứ hai.

Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể đặt vấn đề: Nếu Trung Quốc quyết định tấn công Việt Nam thì quyết định ấy đến từ đâu và trong những trường hợp nào? Hay nói cách khác: những nguyên nhân nào có thể làm bùng nổ chiến tranh giữa Việt Nam và Trung Quốc?

Theo tôi, có bốn nguyên nhân chính:

Thứ nhất, nếu Trung Quốc thấy việc chiếm Biển Ðông là điều tuyệt đối không thể nhân nhượng. Xin lưu ý là việc Trung Quốc muốn độc chiếm Biển Ðông có hai lý do chính: Một là muốn làm chủ hoàn toàn một trong những con đường hàng hải quan trọng nhất trên thế giới; và hai là muốn khai thác các mỏ dầu khí được tin là rất lớn dưới lòng Biển Ðông. Việc làm bá chủ con đường hàng hải có thể được tiến hành lâu dài, trong nhiều năm hay nhiều thập kỷ. Tuy nhiên, nếu việc thăm dò dầu khí cho biết kết quả khả quan, Trung Quốc có thể thúc đẩy quá trình độc chiếm Biển Ðông nhanh hơn. Trong trường hợp đó, họ sẽ không ngần ngại dùng vũ lực để san bằng các thế lực chống đối.

Thứ hai, khi Trung Quốc có khủng hoảng về chính trị. Hầu hết các nước độc tài, khi tuyên chiến với nước khác, đều tuyên chiến khi họ đang ở thế yếu trước dân chúng, đặc biệt khi tính chính đáng của chế độ đang bị đe dọa. Những lúc như thế, người ta cần chiến tranh để, một là, khích động tinh thần quốc gia để đoàn kết mọi người đứng sau lưng chính quyền; hai là, đánh lạc hướng sự quan tâm của dân chúng: thay vì tập trung phê phán chính quyền, dân chúng sẽ đổ tất cả những oán hận của họ vào một quốc gia khác. Ở Trung Quốc hiện nay, sự bất mãn của dân chúng tuy khá lớn nhưng chưa trầm trọng đủ để thành một cuộc khủng hoảng. Những điều kiện để tạo ra một cuộc khủng hoảng như thế là: kinh tế bị suy thoái; nạn thất nghiệp tăng cao, khoảng cách giữa các tầng lớp giàu và nghèo thật lớn; ý thức dân chủ và các tổ chức xã hội dân sự phát triển mạnh. Khi nào những điều kiện ấy chín muồi? Không ai có thể biết được. Nhưng khi chúng xảy ra, chiến tranh với nước ngoài sẽ là một trong những biện pháp chính quyền Trung Quốc có thể sẽ sử dụng để bảo vệ chế độ của họ.

Thứ ba là khi Việt Nam gây hấn với Trung Quốc trước. Thật ra, cho đến nay, chiến thuật Việt Nam sử dụng trước những sự gây hấn ngang ngược của Trung Quốc là nhường nhịn và né tránh mọi sự đối đầu. Tàu Trung Quốc cướp bóc hoặc đâm chìm các tàu đánh cá của Việt Nam: Việt Nam nhịn. Khi Trung Quốc mang giàn khoan HD-981 vào tận thềm lục địa Việt Nam, Việt Nam cũng chỉ chống cự bằng cách cho tàu đánh cá và tàu cảnh sát biển chạy lòng vòng chung quanh và dùng vòi nước xịt nhau chứ không huy động đến các tàu chiến. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là Việt Nam có thể nhường nhịn mãi. Sự nhường nhịn bao giờ cũng có mức độ. Cái gọi là mức độ ấy có hai khía cạnh: Một là mức độ của quốc gia và hai là mức độ của từng cá nhân. Mức độ của quốc gia là khi giới lãnh đạo Việt Nam tuyên bố dứt khoát một lằn ranh nào đó: vượt qua lằn ranh ấy, người ta sẽ ra lệnh nổ súng. Hai là mức độ chịu đựng của cá nhân: Không thể loại trừ trường hợp đứng trước sự khiêu khích của Trung Quốc, một người bộ đội nào đó không thể chịu đựng được nữa và tự động nổ súng cả khi chưa được lệnh. Ðó là chưa kể Trung Quốc là sẽ chủ động khiêu khích để những phản ứng nóng nảy như thế xảy ra hầu có cớ tấn công Việt Nam một cách chính đáng trước dư luận quốc tế.

Thứ tư là khi Việt Nam công khai và chính thức thiết lập liên minh quân sự với Mỹ. Không có gì để hoài nghi nữa cả, một trong những thách thức lớn nhất mà Trung Quốc phải đối diện trong những thập niên sắp tới là chính sách xoay trục về Châu Á của Mỹ. Trong chính sách ấy, Mỹ không những chuyển nhiều chiến hạm, tàu ngầm và các loại khí tài chiến tranh khác đến Châu Á mà còn mở rộng liên minh phòng thủ với nhiều quốc gia khác trong khu vực. Trung Quốc dễ dàng chấp nhận các liên minh giữa Mỹ với Nhật Bản, Nam Triều Tiên và Philippines cũng như với Singapore vì những liên minh ấy đã có từ lâu, hơn nữa, không trực tiếp ảnh hưởng đến Trung Quốc. Ðiều Trung Quốc ngại nhất chắc chắn là một liên minh quân sự giữa Mỹ và Việt Nam. Lý do đơn giản là, một, Việt Nam nằm sát nách Trung Quốc; và hai, lãnh hải của Việt Nam trùng lắp lên con đường lưỡi bò của Trung Quốc. Một thế liên minh quân sự giữa Mỹ và Việt Nam, do đó, sẽ ảnh hưởng sâu sắc đến âm mưu bành trướng của Trung Quốc. Chắc chắn Trung Quốc sẽ tìm mọi cách để ngăn chặn việc liên minh ấy. Biện pháp ngăn chặn cuối cùng là tấn công Việt Nam TRƯỚC khi liên minh ấy được hình thành.

Với nguyên nhân thứ tư vừa nêu, chúng ta nhận ra ngay cái khó của Việt Nam: Một mặt, không liên minh với Mỹ thì sẽ có nguy cơ bị Trung Quốc nuốt chửng; mặt khác, việc liên minh ấy cũng có khả năng dẫn đến chiến tranh với Trung Quốc. Giải quyết tình trạng tiến thoái lưỡng nan này là một trong những thách thức lớn nhất của nhà cầm quyền Việt Nam hiện nay.

Nguyễn Hưng Quốc
@Blog VOA

Thursday, July 30, 2015

28 bức ảnh hiếm về căn cứ Cam Ranh năm 1968

Trong thời gian thực hiện nhiệm vụ tại căn cứ Cam Ranh năm 1968, cựu nhân viên quân sự Mỹ Alfred Eisenstaedt đã ghi lại nhiều hình ảnh hiếm có ở căn cứ có vai trò hết sức quan trọng đối với quân đội Mỹ này.
 Ấp Trường Đông, một khu dân cư gần căn cứ Cam Ranh năm 1968.
Ấp Trường Đông, một khu dân cư gần căn cứ Cam Ranh năm 1968.
Những ngôi nhà ở ấp Trường Tây.
Những ngôi nhà ở ấp Trường Tây.
Một góc căn cứ hải quân Mỹ trên bãi Hòn Lương, Cam Ranh.
Một góc căn cứ hải quân Mỹ trên bãi Hòn Lương, Cam Ranh.
Căn cứ không quân Mỹ ở Cam Ranh.
Căn cứ không quân Mỹ ở Cam Ranh.
Toàn cảnh khu căn cứ không quân.
Toàn cảnh khu căn cứ không quân.
Máy bay F-4 Phantoms của Mỹ tại căn cứ Cam Ranh.
Máy bay F-4 Phantoms của Mỹ tại căn cứ Cam Ranh.
Khí tài của máy bay F-4 Phantoms.
Khí tài của máy bay F-4 Phantoms.
Trực thăng Kaman H-43 Huskie của Mỹ tại căn cứ Cam Ranh.
Trực thăng Kaman H-43 Huskie của Mỹ tại căn cứ Cam Ranh.
Máy bay vận tải quân sự Lockheed C-130 Herculeses của Mỹ tại Cam Ranh.
Máy bay vận tải quân sự Lockheed C-130 Herculeses của Mỹ tại Cam Ranh.
Tên lửa phòng thủ bờ biển của Mỹ ở Cam Ranh.
Tên lửa phòng thủ bờ biển của Mỹ ở Cam Ranh.
Kho bãi của Mỹ ở Cam Ranh.
Kho bãi của Mỹ ở Cam Ranh.
Các căn cứ của quân đổi Mỹ nằm trải dài nhiều km dọc bờ vịnh Cam Ranh.
Các căn cứ của quân đổi Mỹ nằm trải dài nhiều km dọc bờ vịnh Cam Ranh.
 Các trại lính trong căn cứ.
Các trại lính trong căn cứ.
Các khu vực của căn cứ Cam Ranh được kết nối bằng hệ thống đường nhựa.
Các khu vực của căn cứ Cam Ranh được kết nối bằng hệ thống đường nhựa.
Tàu vận tải Mỹ neo đậu trên bãi Đỏ, Cam Ranh.
Tàu vận tải Mỹ neo đậu trên bãi Đỏ, Cam Ranh.
 Tàu đổ bộ của Mỹ ở bãi Đỏ, Cam Ranh.
Tàu đổ bộ của Mỹ ở bãi Đỏ, Cam Ranh.
Một góc nhìn toàn cảnh khu căn cứ của Mỹ ở bãi Đỏ, Cam Ranh.
Một góc nhìn toàn cảnh khu căn cứ của Mỹ ở bãi Đỏ, Cam Ranh.
Khu cảng hàng hóa.
Khu cảng hàng hóa.
Cận cảnh một khu vực đóng quân của lính Mỹ ở Cam Ranh.
Cận cảnh một khu vực đóng quân của lính Mỹ ở Cam Ranh.
Cồn Xứng - một doi đất hẹp đâm ra vịnh Cam Ranh.
Cồn Xứng – một doi đất hẹp đâm ra vịnh Cam Ranh.
Bãi container của Mỹ ở căn cứ Cam Ranh.
Bãi container của Mỹ ở căn cứ Cam Ranh.
Cửa Bé ở Cam Ranh.
Cửa Bé ở Cam Ranh.
23
Hải đăng đổ nát trên mũi Hòn Lương, vịnh Cam Ranh.
Hải đăng đổ nát trên mũi Hòn Lương, vịnh Cam Ranh.
Điểm đóng chốt của quân Mỹ ở Hòn Lương.
Điểm đóng chốt của quân Mỹ ở Hòn Lương.
 Khu căn cứ Mỹ trên bãi Đỏ, Cam Ranh.
Khu căn cứ Mỹ trên bãi Đỏ, Cam Ranh.
Sân bay Cam Ranh Tây.
Sân bay Cam Ranh Tây.
Toàn cảnh vùng vịnh Cam Ranh.
Toàn cảnh vùng vịnh Cam Ranh.




@internet

Wednesday, July 29, 2015

TRẬN THƯỜNG ĐỨC,
CUỘC THƯ HÙNG NAM-BẮC CUỐI CÙNG

Xuân Giáp Ngọ 2014, nhớ đến những hy sinh vô bờ bến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong cuộc chiến bảo vệ miền Nam tự do trước 1975


Ghi chú: mặt đông của Đồi 1062 là đồng bằng với các sông Thu bồn & Vu Gia, có "Đồi 52m" nằm án ngữ cửa vào các làng Hà Nha 3 & 4 ,  Đồi 52 là chốt của địch quân CSBV với chiến xa T54 yểm trợ.
oOo


* Dẫn nhập

Mặc dù trận đánh tại Thường Ðức (từ ngày 15 tháng Tám đến ngày 8 tháng Mười một, năm 1974), cũng như trận Long Khánh hồi tháng Tư, năm 1975, không phải là trận đánh sau hết trong Chiến Tranh Việt Nam, nhưng đây phải được coi là cuộc đọ sức cuối cùng trong số hằng trăm, hằng nghìn trận thư hùng lớn, nhỏ của quân đội hai miền Nam-Bắc, một trận Ðiện Biên Phủ khác trên chiến trường Việt Nam mà kẻ chiến thắng là Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH). Có nhiều lý do dẫn tới nhận định trên.

Lý do thứ nhất là mức độ dữ dội của trận đánh tại Thường Ðức khi chưa bao giờ có đông đến như thế các lực lượng tham chiến và hỏa lực tập trung của cả hai bên trên một chiến trường nhỏ hẹp chỉ gồm có ngọn Ðồi 1062 mét và các đồi phụ [xem bản đồ hành quân trên hình nền] chung quanh với cao điểm trận đánh kéo dài chưa đầy một tháng.
Lý do thứ hai là trận đánh này, dù mức độ ác liệt chỉ thua sút có trận Cổ Thành Quảng Trị và trận An Lộc, lại không được nhiều người biết đến do địa thế hẻo lánh của vùng giao tranh (giáp giới với vùng Hạ Lào) và do tình hình chính trị vào những ngày cuối của cuộc Chiến Tranh Việt Nam quá sôi động khiến báo chí Tây phương, vốn rất ồn ào, không đưa tin đúng mức vì họ không kịp hiểu hết tầm mức quan trọng của trận đánh mang ý nghĩa của một “cuộc thăm dò khả năng chiến đấu một mình” của quân đội miền Nam Việt Nam chống lại các lực lượng cộng sản sau khi quân chiến đấu Hoa Kỳ đã rút về nước.

Lý do thứ ba là số lượng cao của các lực lượng tinh nhuệ tham chiến: Quân Ðội Nhân Dân (QĐND) cộng sản Bắc Việt (CSBV) có Sư Ðoàn 304 Ðiện Biên (SĐ304ĐB) cùng Sư Ðoàn 324B (SĐ324B) và QLVNCH có Sư Ðoàn Nhảy Dù (SĐND).

Lý do thứ tư là cán cân thăng bằng về hỏa lực và nhân sự giữa đôi bên coi như đã được tái lập sau khi các lực lượng chiến đấu của Hoa Kỳ đã thực sự rút lui khỏi chiến trường, đem theo luôn sức yểm trợ mạnh mẽ của máy bay oanh tạc và hải pháo của Không Quân, Hải Quân và Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, trong khi, về mặt súng nặng, quân Bắc Việt đã đưa vào chiến trường một số trọng pháo tân tiến chưa thấy dùng trong Mùa Hè Ðỏ Lửa cách đó hơn hai năm. (Yếu tố này được đề cập tới để các nhà viết quân sử không còn lý do nào để bảo rằng QLVNCH có ưu thế về hỏa lực trong mọi trận đánh so với QĐND CSBV.)

Lý do sau cùng là lòng quyết chiến, quyết thắng của cả đôi bên trong trận đánh khi SĐ304ĐB, sau khi đã chiếm được quận lỵ Thường Ðức và ngọn Ðồi 1062, một cao điểm chiến lược cực kỳ hung hiểm, chính thức thách đấu với SĐND để phân định cao thấp trong một trận đánh mà từ thời điểm cho tới chiến trường đều do họ chọn lựa. Một số tài liệu về trận đánh này cho biết chính cộng quân đã dùng giàn thun bắn thư rơi khiêu chiến, “thách ‘Ngụy’ Dù lên đánh.” Phải biết rằng phe cộng sản vẫn hết sức ấm ức khi đành chấp nhận thảm bại trong trận chiến Cổ Thành Quảng Trị hồi Mùa Hè năm 1972 sau khi bị các lực lượng Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) và Nhảy Dù (ND) của QLVNCH, có sự yểm trợ của hỏa lực hùng hậu của Hải Quân, Thủy Quân Lục Chiến và Không Quân Hoa Kỳ, đánh cho tan tác, để rồi các lực lượng “Bộ đội Cụ Hồ” tinh nhuệ dưới quyền Tướng Võ Nguyên Giáp tham chiến đành phải rút lui “không còn manh giáp.” (1) Với các lý do được kể ra ở trên, chiến thắng của các lực lượng ND trước quân CS phải được coi là hết sức oanh liệt và dứt khoát. Sau gần ba tháng trời, trận đánh kết thúc với việc các lực lượng ND của QLVNCH - dưới quyền chỉ huy tổng quát của các tướng Ngô Quang Trưởng và Lê Quang Lưỡng - tiêu diệt gần như toàn bộ các lực lượng tham chiến của CSBV bên trong và chung quanh ngọn đồi chiến lược 1062, khẳng định trước các nhà viết quân sử thế giới tính ưu việt của QLVNCH so với QĐND CSBV. (2)
Bài viết này được thực hiện, phần lớn, dựa trên tài liệu nhan đề “33 Năm Nhớ Về Mặt Trận Thường Ðức” của Ðại úy Võ Trung Tín và Ðại úy Nguyễn Hữu Viên, cả hai đều là sĩ quan chỉ huy ND, và đã được phổ biến rộng rãi trên mạng lưới điện toán từ tháng Mười một, năm 2008.

* Bối cảnh chiến trận

Trong phần nhận định tổng quát về bối cảnh cuộc chiến, các tác giả viết:

“Sau khi Hiệp Ðịnh Paris được ký kết vào cuối Tháng Giêng, 1973, tình hình chiến cuộc Việt Nam tạm lắng dịu.... Vào những tháng cuối năm 1974, sau khi trao đổi tù binh với Hoa Kỳ xong xuôi, CSBV không ngần ngại bắt đầu vi phạm Hiệp Ðịnh Ba Lê để thực hiện ý đồ xâm lăng thôn tính miền Nam bằng võ lực.... Song song với việc CSBV mở mặt trận lớn đầu tiên tại Vùng 1 Chiến Thuật với ý đồ cầm chân các đơn vị tổng trừ bị của QLVNCH đồng thời ào ạt di chuyển bộ đội trên Ðường Mòn Hồ Chí Minh vào các Quân Khu 2 và 3, hai SĐ304 và SĐ324B BV, cùng các trung đoàn pháo, chiến xa bất thần đánh chiếm quận Thường Ðức thuộc tỉnh Quảng Nam là một điểm chiến lược nhờ địa thế núi rừng hiểm trở....
Ðịa hình Thường Ðức rất hiểm yếu, ba bề là núi cao, có nhiều dốc dựng đứng. Phía Ðông bằng phẳng, từ quận Ðiện Bàn trên giao điểm Quốc Lộ 1, Liên Tỉnh Lộ 4 chạy dọc theo Sông Vu Gia dẫn vào Thường Ðức nằm ngay ngã tư Liên Tỉnh Lộ 4 và Quốc Lộ 14 và cũng là nơi hợp lưu của hai con Sông Côn và Sông Vu Gia nước sâu, chạy dài từ Tây sang Ðông. Chính phủ VNCH cho thành lập quận này nhằm cắt đứt con đường 14, không cho cộng quân sử dụng để di chuyển vào Nam...”

Nói đến các động lực dẫn đến việc CSBV xua quân lấn chiếm Chi Khu Thường Ðức và việc Trung tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Quân Ðoàn 1 Vùng I Chiến Thuật, giao cho SĐND trọng trách tái chiếm quận này, các tác giả viết:

“Về mặt chiến lược, Thường Ðức là một vị trí quan trọng xuất phát các cuộc hành quân trinh sát [của các lực lượng VNCH], khống chế con đường tiếp liệu Trường Sơn Ðông mà CSBV vừa mới khai dựng sau ngày ký hiệp định 27 tháng Giêng 1973. Từ phía Bắc, quân dụng và chiến cụ theo đường mòn Hồ Chí Minh đưa từ A Lưới đến A-Shau qua Trào đến Bến Giàng nằm trên Liên Tỉnh Lộ 4 cách Thường Ðức không xa. Tại đây quân CSBV có những kho lẫm tồn trữ quân dụng tiếp tế cho mặt trận Quân Khu Năm.

Về chính trị, với việc chiếm đóng Thường Ðức, Hà Nội có thể đánh giá được phản ứng của Hoa Kỳ và khả năng viện trợ quân sự cho Sài Gòn. Về quân sự, Hà Nội có thể đánh giá khả năng phản kích, cơ động và hỏa lực yểm trợ chủ lực VNCH ở Quân Khu 1, đặc biệt là các lực lượng tổng trừ bị cơ động chiến lược (Nhảy Dù). “Ðối với VNCH, trận chiến Thường Ðức đánh dấu việc vi phạm ngưng bắn của CSBV đã đến một mức độ nghiêm trọng mới. Thường Ðức trở thành quận lỵ đầu tiên của VNCH rơi vào tay CS sau ngày ngưng bắn. Đại Lộc và Ðà Nẵng [nơi đặt bản doanh của Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn 1, Vùng 1 Chiến Thuật] sẽ bị đe dọa nghiêm trọng từ hướng Tây chỉ cách thung lũng sông Vu Gia.”
Các tác giả liệt kê lực lượng địch và bạn tham chiến như sau:

Lực lượng địch tham chiến gồm có:
Sư Ðoàn 324B gồm các Trung Ðoàn 29, Trung Ðoàn 6 và Trung Ðoàn 803 di chuyển từ phía Tây tỉnh Quảng Trị xuống tỉnh Quảng Nam;

Sư Ðoàn 304 Ðiện Biên, Tư lệnh là Trương Công Phê, chính ủy là Trần Bình chỉ huy trực tiếp trận chiến, gồm 3 trung đoàn 66, 24, và 36 vừa tham gia trận đánh chiếm căn cứ Dak Pek ở phía Bắc tỉnh Kontum vào giữa Tháng Năm đã bí mật di chuyển vào khu vực Thường Ðức;

Trung Ðoàn 31 thuộc Sư Ðoàn 2 CSBV tăng viện vào lúc cuối trận chiến;

2 Tiểu đoàn bộ đội địa phương Quảng-Ðà;

1 Trung đoàn Pháo và Trung đoàn Chiến Xa....
(Các tác giả cũng ghi nhận rằng, về mặt súng nặng, các lực lượng CSBV đã đưa vào sử dụng loại súng cối 160 ly có sức công phá lớn, ngoài các loại vũ khí nặng khác mà họ từng sử dụng trong trận chiến như hỏa tiễn 122 ly, sơn pháo 130 ly, pháo 105 ly, pháo 85 ly, cối 82 ly và cối 61 ly.)

Lực lượng bạn:
Tiểu Ðoàn 79 Biệt Ðộng Quân Biên Phòng;

2 Đại đội Ðịa Phương Quân
;

1 Đại đội Cảnh Sát Dã Chiến;

1 Trung đội Viễn Thám;

16 Trung đội Nghĩa Quân;

Lữ Ðoàn 1 Nhảy Dù do Trung tá Nguyễn Văn Ðỉnh làm Lữ Ðoàn Trưởng gồm 3 Tiểu Ðoàn 1, 8, 9 Nhảy Dù và Tiểu Ðoàn 1 Pháo Binh Nhảy Dù;

Lữ Ðoàn 3 Nhảy Dù do Trung tá Lê Văn Phát làm Lữ Ðoàn Trưởng gồm 3 Tiểu Ðoàn 2, 3, 6 Nhảy Dù và Tiểu Ðoàn 2 Pháo Binh Nhảy Dù.
* Một số diễn tiến đáng chú ý trong trận Thường Ðức Về diễn tiến các cuộc giao tranh vô cùng ác liệt trong trận Thường Ðức, nhất là trận đánh để tái chiếm Ðồi 1062 đã lọt vào tay cộng quân sau khi họ tràn ngập Chi Khu Thường Ðức ngày 7 Tháng Tám, năm 1974, xin trích dẫn một đoạn tiêu biểu trong bài viết của hai tác giả Võ Trung Tín và Nguyễn Hữu Viên:

Tiểu Ðoàn 1 Nhảy Dù tấn công 1062: “TĐ1ND quyết định đột kích đêm và lợi dụng gió Ðông làm một trận hỏa công. Lực lượng xung kích gồm 2 Trung đội với Thiếu úy Lê Văn Bá chỉ huy một Trung đội thuộc Ðại Ðội 14 và Thiếu úy Phạm Thanh Quan chỉ huy một Trung đội của Ðại Ðội 11. Ðại Ðội 11ND làm thành phần trừ bị sẵn sàng tiếp ứng kịp thời cho lực lượng tấn công. Hỏa lực yểm trợ gồm súng cối 60 ly và 81 ly đã được chuẩn bị yếu tố tác xạ sẵn sàng.” “Sáu giờ chiều, ánh sáng mặt trời trong rừng già đã tắt hẳn. Hai Trung đội bắt đầu xuất phát. Thiếu úy Quang dẫn Trung đội đi bên trái, Trung đội Thiếu úy Bá bên phải. Họ giữ đội hình đi song song và cách nhau khoảng từ 30 đến 40 thước. Pháo binh 105 ly của ta vẫn đều đều bắn cắm chỉ trên mục tiêu để địch lo trốn trong hầm, không ngóc đầu lên quan sát quân ta đang di chuyển. Một giờ, hai giờ, rồi ba giờ trôi qua...”. “Bỗng nghe một loạt đạn nổ bên phải rồi im lặng. Pháo binh [ta] ngưng tác xạ, hai cánh quân vừa bắn vừa hô xung phong vang rền cả núi rừng hoang vu. Lửa bắt đầu cháy trên mục tiêu, nhiều nhất là bên cánh Thiếu úy Quang. Bộ Chỉ Huy TĐ1ND xin Pháo Binh chuyển tác xạ về hướng Tây để bắn chận quân địch. Tiếng của Quang vang trong máy:

- Chiếm được đỉnh rồi, đích thân! Hầm quá nhiều và kiên cố, làm toàn bằng cây to. Mấy đứa con đang bung rộng chờ cánh quân bên phải!

“Trời tối đen như mực, vẫn chưa liên lạc được Thiếu úy Bá. Mười lăm phút sau, Thiếu tá Quý đứng dưới mục tiêu C thấy trên D có từng cụm lửa lóe lên chen lẫn trận địa pháo bằng súng cối và sơn pháo 120 ly của địch.

Tiếng của Quang vang lên trong máy:

- Chúng pháo dữ dội quá, đích thân, nhưng hầm hố kiên cố, không sao!”

“Rồi hàng loạt tiếng đạn AK-47 kêu rít, tiếng Quang hét trong máy:

- Chúng nó phản công, đông lắm! Cho Pháo Binh bắn trên đầu tôi, tụi nó đông như kiến!

Mau lên! Pháo! Pháo mau lên!”

“Ban đêm tời tối, ÐÐ11ND trừ bị cho Quang và Bá đang ở lưng đồi yên ngựa. Trung đội Thiếu úy Bá thì không liên lạc được ngay từ loạt đạn đầu, sau này mới biết được là Bá và 4 binh sĩ đã hy sinh vì mìn Claymore... ngay từ lúc đó.”

“Thiếu tá Ngô Tùng Châu (Tiểu Ðoàn Trưởng) bảo Quý:

- Nếu thấy không được thì bảo Quang rút về, đừng hy sinh nhiều, ta sẽ tìm cách khác.”

“Nhưng Quang không nghe lệnh (hoặc không thể nghe lệnh!). Hai Trung đội đột kích của TĐ1ND đã gặp sự kháng cự phản công quá mãnh liệt, quân số địch rất đông. Từ đỉnh cao, khe núi, và các địa đạo trong rừng cây ùa ra như đàn ong vỡ tổ! Lính Nhảy Dù rỉa bắn không nghỉ tay. Trước khi gần hết đạn, Quang gọi Thiếu tá Quý phải kêu Pháo Binh bắn đạn nổ chụp ngay trên đầu thí quân, quyết liều sống chết với quân CSBV. Thiếu úy Quang đã tập trung đạn của các binh sĩ bị thương, bảo họ rút, còn Quang thì ở lại bắn tới hết đạn và anh dũng hy sinh trên mục tiêu D.... Các đạn pháo CVT đã sát hại 10 phần địch và 3 phần quân bạn. Xác địch và ta nằm ngổn ngang trên đỉnh Ðồi 1062. Trung đội của Thiếu úy Quang có 15 chiến sĩ anh dũng hy sinh...”

* Mức độ hy sinh không bờ bến của các chiến sĩ Nhảy Dù Về những hy sinh to lớn của các chiến sĩ Nhảy Dù tại mặt trận Thường Ðức như sự hy sinh vừa kể của Thiếu úy Quang và 15 chiến sĩ thuộc Trung đội dưới quyền của vị sĩ quan này, các tác giả viết: “'Cái giá' để chiếm được Đồi 1062 thực sự là một cái giá rất cao, cao nhất của chiến trận mà các chiến sĩ Dù đã gặp phải từ trước tới nay. Năm Tiểu Đoàn Dù bị tổn thất nặng, nặng nhất là Tiểu Ðoàn 3 của Thiếu tá Võ Thanh Ðồng, quân số hao hụt gần 50 phần trăm.

Trong phạm vi của bài viết ngày hôm nay, chỉ xin trích dẫn một vài đoạn tiêu biểu trong bài viết của hai tác giả đã được đề cập tới, nói lên những gai lửa của trận chiến cùng những hy sinh, gian khổ không bút mực nào tả xiết mà các chiến sĩ Nhảy Dù đã cống hiến cho dân chúng miền Nam Việt Nam, chỉ với một mục đích không hề lay chuyển của Sư Ðoàn bách chiến, bách thắng này là bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ của miền Nam do trước cuộc tấn công xâm lược điên cuồng của CSBV, có sự yểm trợ tối đa của cộng sản Quốc Tế và sự đồng lõa, cố ý cũng có mà vô tình cũng có, của phần còn lại của thế giới hồi các thập niên 1950, 1960, và 1970 trong thế kỷ trước:

“Trước khi gần hết đạn, Quang gọi Thiếu tá Quý phải kêu Pháo Binh bắn đạn nổ chụp ngay trên đầu thí quân, quyết liều sống chết với CSBV. Thiếu úy Quang đã tập trung đạn của các binh sĩ bị thương, bảo họ rút, còn Quang thì ở lại bắn tới hết đạn và anh dũng hy sinh trên mục tiêu D (đã trích dẫn).... Một quả lựu đạn đã rơi trúng nơi trú ẩn của Thiếu úy Ðoàn Tấn và Chuẩn úy Đến thuộc Ðại Ðội 81ND khiến hai anh bị thương vong. Lúc quả lựu đạn vừa rơi tới, Thiếu úy Tấn định nhào lại lấy thân mình che cho đồng đội, nhưng không kịp nữa.... Thiếu tá Vân nghe tiếng Ðại úy Ðàng hét trong máy xin pháo binh và phi cơ bắn lên đỉnh đồi, vì địch đã tràn ngập! Hai bên phải đánh cận chiến bằng lưỡi lê và lựu đạn, nhưng địch nhiều quá, cứ liều chết nhào tới tấn công. Ðại úy Ðàng và anh em trong đại đội cầm cự, xông xáo, tả xung, hữu đột, người nào trên mình cũng bị nhiều vết thương, áo ướt đầy máu. Ðàng nguyên là cận vệ của Trung tướng Nguyễn Viết Thanh. Bộ Chỉ Huy Tiểu Ðoàn gọi 3 phi tuần khu trục giội bom napalm xuống đốt cháy sườn đồi. Sau đó, từng đợt pháo binh bắn hỏa tập trợ chiến. Sau khi pháo dứt, những cán binh Bắc Việt lại tràn lên thấy Ðàng bị thương nặng còn ngất ngư vì trúng nhiều mảnh, anh dùng hơi tàn rút súng định tự sát, thì người anh bị ghim như lông nhím. Ðàng ngồi chết trân mà đôi mắt hãy còn trợn trừng không khuất phục. Ðại Ðội 34ND của Trung úy Thư, lên tiếp ứng thì gặp địch tràn tới đánh tơi bời thật hung hiểm vô cùng! Ðịch hô: “Hàng sống, chống chết,” nhưng Thư cứ hăng máu lấy AR-15 quạt và kêu pháo binh bắn đạn nổ chụp lên đầu để cùng chết chung với 5 phần địch 1 phần bạn. Một mình Tiểu Ðoàn 3 Nhảy Dù mà phải cầm cự với cả trung đoàn của SÐ304ÐB, địch cho các đơn vị thay phiên tấn công gần một ngày. Các sĩ quan dũng mãnh của Tiểu Ðoàn 3 Nhảy Dù như Ðại úy Phạm Văn Thư, Thiếu úy Tô Văn Nhị đã gọi pháo binh bắn lên đầu để cùng chết chung với hằng trăm xác địch...”.

Về con số các chiến sĩ Nhảy Dù QLVNCH đã hy sinh trong chiến dịch kéo dài gần ba tháng trời tại Thường Ðức, thiết tưởng cũng chỉ cần nêu tên một số các sĩ quan ưu tú Dù đã bỏ mình trong trận chiến này - thêm vào con số hằng trăm, hằng nghìn chiến sĩ QLVNCH thuộc nhiều quân, binh chủng đã bỏ mình trong trận đánh - cũng đủ thấy mức độ hy sinh to lớn của tập thể chiến sĩ QLVNCH trong cuộc chiến bảo vệ miền Nam tự do trước đây, theo đúng nghĩa của tinh thần thượng võ và khí phách “chiến đấu đến hơi thở cuối cùng.” Qua bài viết của hai tác giả “35 Năm Nhớ về Mặt Trận Thường Ðức, “ các sĩ quan Nhảy Dù sau đây đã bỏ mình ngay trên chiến trường:
DANH SÁCH CÁC SĨ QUAN TIỂU ĐOÀN 1 NHẢY DÙ QLVNCH
ĐÃ HY SINH TẠI MẶT TRẬN THƯỜNG ĐỨC NĂM 1974:
ĐẠI ĐỘI 11ND
Trung úy Nguyễn Thế Bằng (Đại đội phó)
Thiếu úy Phạm Thanh Quan (Trung đội trưởng Trung đội 2)
Thiếu úy Nguyễn Quang Tuyến (Trung đội trưởng Trung đội 1)
ĐẠI ĐỘI 12ND
Trung úy Khánh (Đại đội phó)
ĐẠI ĐỘI 14ND
Trung úy Khiêm (Đại đội phó)Thiếu úy Lê Văn Bá (Trung đội trưởng)
Chuẩn úy Châu (Trung đội trưởng)
Thiếu úy Nguyễn Tường Loan (Loan Mắt Nhung) (Trung đội trưởng)
DANH SÁCH CÁC SĨ QUAN CỦA CÁC TIỂU ĐOÀN NHẢY DÙ QLVNCH KHÁC
ĐÃ HY SINH TẠI MẶT TRẬN THƯỜNG ĐỨC NĂM 1974
:
Thiếu úy Hoàng Văn TiếnThiếu úy Nghiêm Sĩ Thành
Thiếu úy Ðoàn Tấn
Chuẩn úy Ðến
Trung úy Vũ Ðức Tiềm
Ðại úy Ngụy Văn Ðàng
Trung úy Phạm Văn Thư
Thiếu úy Tô Văn Nhị
Chuẩn úy Bảo
Trung úy Thịnh
Thiếu úy Trần Ðại Thanh
Thiếu úy Lê Hải Bằng...
Một số sĩ quan khác có thể cũng đã tử trận trong chiến dịch tái chiếm Thường Ðức, mà vì lý do này hay lý do khác, đã không thấy được kể tên. Dĩ nhiên là con số hạ sĩ quan và binh sĩ Thiên Thần Mũ Ðỏ hy sinh trong trận này còn cao hơn nhiều so với số các sĩ quan tử trận.

* Trận Thường Ðức ác liệt không thể tưởng Sau hết, về cường độ các cuộc giao tranh và mức độ ác liệt của trận chiến Thường Ðức, hai tác giả đã đưa ra các nhận định sau đây trong bài viết của họ:

“Ðỉnh 1062 là một nấm mồ tập thể khổng lồ, chôn không biết bao nhiêu sinh mạng của cả hai bên. Mỗi khi quân ta vừa chiếm được 1062, thì lập tức địch giội pháo, điên cuồng xông lên quyết chiếm lại cho bằng được. Cả hai bên mất đi, giành lại đỉnh 1062 nhiều lần. 'Cái giá' để chiếm được Ðồi 1062 thực sự là một cái giá rất cao, cao nhất của chiến trận mà các chiến sĩ Dù đã gặp phải từ trước tới nay. Năm tiểu đoàn Dù bị tổn thất nặng, nặng nhất là Tiểu Ðoàn 3 của Thiếu tá Võ Thanh Ðồng, quân số hao hụt gần 50 phần trăm (đã trích dẫn).... Gần một tháng quần thảo, ta và địch đều bị tổn thất nặng quanh đỉnh 1062. Chiếm xong lại mất, mất rồi thì chiếm lại bằng mọi giá. Vào giờ này, lực lượng địch bu quanh 1062 dày đặc như ruồi bu quanh viên kẹo. Cối 75 ly và sơn pháo của địch từ những cao độ phía Tây Bắc bắn từng nhịp 4 trái, và bộ đội Bắc Việt từ hướng đó đồng loạt tiến vào. Cộng quân dùng chiến thuật biển người, chẳng điều động, ẩn núp gì cả. Lính Nhảy Dù đồng đứng dậy khỏi giao thông hào bắn trả mãnh liệt. Súng bắn không cần nhắm. Lựu đạn ném không cần lấy đà. Hàng hàng, lớp lớp cộng quân rơi rụng...”

Theo lời hai tác giả, tổn thất chung cuộc của ta và địch sau ba tháng giao tranh là như sau:

“Từ khi khởi đầu chiến dịch Thường Ðức vào ngày 15 tháng Tám liên tục trong 3 tháng chiến đấu ác liệt quanh khu vực Ðồi 1062, các đơn vị Nhảy Dù đã thiệt hại đến 50 phần trăm quân số, với gần 500 chết và 2,000 bị thương. SĐND sử dụng luân phiên tổng cộng 7 tiểu đoàn trong chiến dịch này, và đến giữa tháng Mười một có đến 6 tiểu đoàn hoạt động trong khu vực Ðồi 1062. Ba trung đoàn CSBV (24, 29, 66) gần như bị xóa tên với 2,000 bộ đội chết và 5,000 bị thương. Cả hai bên đều kiệt sức sau một chiến dịch đẫm máu.” (Tài liệu: Col. William E. LeGro trong “Vietnam from Ceasefire to Capitulation”)* Từ trận chiến Thường Ðức đến cuộc Chiến Tranh Việt Nam Trận đánh Thường Ðức, trận đọ sức cuối cùng của quân đội hai miền Nam Bắc trong cuộc Chiến Tranh Việt Nam vừa qua, ngoài việc cho thấy tính ưu việt của QLVNCH trước QĐND CSBV, còn tiêu biểu cho những hy sinh không bờ bến của QLVNCH, bất kể họ là Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Ðộng Quân, Không Quân, Hải Quân, Bộ Binh, Ðịa Phương Quân hoặc Nghĩa Quân, qua cuộc chiến đấu bảo vệ miền Nam Việt Nam trước 1975 trong bối cảnh cuộc chiến đấu cho tự do của nhân loại bị phản bội khi chiếc tiền đồn chống Cộng tại Ðông Nam Á bị bỏ rơi một cách tàn nhẫn.

Không ai có thể tưởng tượng được rằng, chỉ vì một ngọn đồi khô cằn tại một quận lỵ đèo heo hút gió xa cách những vùng cư dân trù phú dưới miền đồng bằng duyên hải miền Trung, Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn 1, Vùng I Chiến Thuật, đành phải chấp nhận đưa lá bài chủ lực của mình tại Vùng Hỏa Tuyến, là hai Lữ Ðoàn của Sư Ðoàn Nhảy Dù, vào trận địa để thanh toán mục tiêu, tức là nhổ cho bằng được cái chốt địch đang ngạo nghễ chiếm đóng Ðồi 1062 ngó xuống quận Thường Ðức đặng từ đó đưa pháo tầm xa về khống chế các cơ sở quân sự - trong đó có bản doanh của Quân Ðoàn I - và dân sự cùng phố phường, làng xã của dân chúng tại miền duyên hải Quảng Nam - Ðà Nẵng. Phải biết rằng, trong tình thế lúc bấy giờ, các lực lượng tổng trừ bị trấn đóng tại Quân Ðoàn I, như SĐND và SĐTQLC cùng với các Liên Ðoàn Biệt Ðộng Quân thiện chiến, đang bị căng kéo và dàn mỏng đến mức tối đa trên địa hình hiểm trở của Vùng I Chiến Thuật, chiếc ải địa đầu của miền Nam Việt Nam, nơi xuất phát và cũng là nơi đánh dấu biết bao nhiêu trận đánh lớn trong cuộc Chiến Tranh Quốc-Cộng kể từ khi đất nước Việt Nam bị chia đôi bằng con Sông Bến Hải cho tới năm 1975.

Ðiều rõ ràng nhất và cũng là điều nổi bật nhất chính là mức độ hy sinh rất cao, cao đến độ không bờ bến, của tất cả các lực lượng tham chiến trong chiến dịch chiếm lại Ðồi 1062 và giành lại quận Thường Ðức khỏi tay cộng quân, trong đó phải kể tới rất nhiều lần các chiến sĩ Nhảy Dù đã kêu phi pháo dội bão lửa ngay trên đầu mình để thí một mạng của mình đổi lấy bốn, năm mạng của địch quân. Chưa có trận đánh nào mà, chỉ trong khoảng thời gian không đầy ba tháng, lại có nhiều sĩ quan ưu tú và binh sĩ kiên cường của SĐND phải hy sinh tại mặt trận đến thế. Chưa có trận đánh nào mà, chỉ trong khoảng thời gian không đầy ba tháng, các lực lượng chính quy CSBV và du kích địa phương, đặc biệt là Sư Ðoàn 304 Ðiện Biên, đã phải tổn thất nặng nề đến như vậy, mặc dù, giống hệt như quân đội Pháp trong trận Ðiện Biên Phủ 20 năm về trước, chính quân cộng sản là kẻ lựa chọn chiến trường và thời điểm giao tranh, tức là đúng vào lúc họ có được ưu thế chiến lược và chiến thuật cao nhất để bảo đảm rằng họ sẽ là kẻ chiến thắng trong trận thư hùng.

Những hy sinh vô bờ bến đó của các chiến sĩ Nhảy Dù càng trở nên cay đắng hơn khi, không đầy một năm sau, toàn bộ miền Nam Việt Nam đành rơi vào tay quân CS vì lý do không phải quân đội và nhân dân miền Nam tự do yếu hèn mà chính vì sự phản bội trắng trợn của Ðồng Minh Hoa Kỳ và thái độ a dua đến mức trâng tráo của phần còn lại của thế giới vốn đã bị bùa mê, thuốc lú của CS Quốc Tế làm cho ngu muội đi tự lúc nào. Những cái chết như thế, vào giờ thứ 25 của cuộc chiến, phải được coi là những thiệt thòi lớn lao nhất trong đời người chiến sĩ và đối với những người thân yêu của họ còn lại trên cõi đời.

Những người Việt Nam tỵ nạn cộng sản tại hải ngoại, mỗi khi đốt một ngọn nến, thắp một nén hương trước bàn thờ tổ quốc và anh linh các anh hùng, liệt nữ cùng các tử sĩ của VNCH nhân dịp Tết đến, Xuân về, hãy nhớ đến cách riêng những hy sinh to lớn của các chiến sĩ từng tham chiến tại mặt trận Thường Ðức vào những ngày tháng cuối của năm 1974 - Y như những hy sinh của các chiến binh đánh trận Xuân Lộc hồi Tháng Tư năm 1975 - Bởi vì đây là những trận đánh để đời làm vang danh QLVNCH và làm xấu hổ những nhà viết sử đầy thiên vị của cả bạn lẫn thù đã và đang nỗ lực bôi nhọ sức chiến đấu dũng mãnh, tinh thần thượng võ và ý chí quyết chiến, quyết thắng của người chiến binh Cộng Hòa tại miền Nam Việt Nam, chỉ với mục đích không mấy lương thiện là chạy tội cho sự lầm mê và phản bội của thế giới khi họ cùng hè nhau bỏ rơi VNCH vào tay quân CS đặng chuốc lấy hư danh rằng chính họ đã giúp “mang lại hòa bình và chấm dứt đổ máu cho dân chúng Việt Nam ở cả hai miền Nam, Bắc.” Chính sự cầu an và lòng thương hại không đúng chỗ đó của thế giới đã đẩy đưa dân tộc Việt Nam đến thảm cảnh ngày nay, khi toàn bộ một dân tộc gồm gần 90 triệu người đang phải sống lầm than cơ cực và thiếu tự do, dân chủ dưới ách cai trị vừa độc tài vừa ngu muội mà cũng vừa khiếp nhược trước ngoại bang của đảng CS Việt Nam.

Thật chẳng được cái tích sự gì khi con, em những người tỵ nạn Việt Nam thuộc các thế hệ thứ nhì, thứ ba, thứ tư... phải đọc và phải học về lịch sử cuộc Chiến Tranh Việt Nam do chính các sử gia Hoa Kỳ viết, có sự tham khảo các sách báo tuyên truyền của CS Việt Nam, mà trang nào, chương nào cũng chỉ đổ cái lỗi để mất miền Nam Việt Nam vào tay quân CSBV xâm lược hồi Tháng Tư năm 1975 cho dân chúng và chính phủ VNCH - đặc biệt là đổ thừa cho chính quyền Ngô Ðình Diệm độc tài, gia đình trị và chính quyền Nguyễn Văn Thiệu tham nhũng, bất lực cũng như viện lý do QLVNCH thiếu khả năng chiến đấu - bất chấp các đánh giá trung thực và lương thiện của nhiều danh tướng mang các quốc tịch Mỹ, Pháp, Ðại Hàn, Úc Ðại Lợi, Trung Hoa Dân Quốc, và Israel về quân đội đó.
* LỜI CUỐI CHO THIÊN ANH HÙNG CA 


    Ðến đây, thiết tưởng không gì bằng hãy mượn lời thơ sau đây của SVSQ Lê Chiến, Khóa 8/72 SQTB Ðồng Ðế, Nha Trang, viết để tưởng niệm các chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tham dự mặt trận Thường Ðức năm 1974:
oOo

Giặc qua Sông Côn về Thường Ðức
Trong cơn gió lạnh cuối Trường Sơn
Quân ngược dòng sông đêm thao thức
Di binh, chuyển pháo tấn công đồn

Anh Biệt Ðộng Quân đêm phòng thủ
Nhìn qua ánh sáng lỗ châu mai
Thêm một đêm dài không giấc ngủ
Khói thuốc cay mờ trong mắt ai
Anh lính Địa Phương trong lô-cốt

Tay cầm ống phóng bảy-mươi-hai
Bên xóm nhà xa đèn ai đốt
Lập lòe ánh lửa bóng liêu trai

Anh lính Pháo Binh ghi tọa độ
Sẵn sàng yểm trợ pháo tầm xa
Chùi súng, thông nòng lo tu bổ
Tay sờ thép lạnh ướt sương pha


Anh Thiết Kỵ về đường liên tỉnh
Băng ngang Ðại Lộc đến Hà Nha
Vó câu dong ruổi như đời lính
Từ độ lửa binh chẳng về nhà
Anh lính Không Quân từ Ðà Nẵng
Phi pháo từng đêm chặn giặc về
Có lẽ đêm nay anh thức trắng
Ðợi chờ phi vụ đắng cà-phê
Anh Nhảy Dù về từ Quảng Trị

Ba-lô, súng đạn tới Cầu Chìm
Nhận đồ tiếp tế trên chiến lũy
Nghe hờn sông núi dậy trong tim

Ðại pháo từng đêm trên chiến trận
Xe tăng, bộc phá mở hàng rào
Anh vẫn hiên ngang làm bổn phận
Quê mẹ vì ai tẩm máu đào
Hơn ba mươi năm ngày lịch sử

Thường Ðức quê tôi những ngày buồn
Cũng bóng tre xanh người Thượng nữ
Vu Gia sông cũ nước xuôi nguồn

Tôi nhớ ơn anh, người lính chiến
Tháng ngày bảo vệ xóm làng tôi
Những kẻ hy sinh trên trận tuyến
Ngàn sau còn nhớ mãi không thôi...
Hôm nay đây, 35 năm sau trận đánh Thường Ðức lịch sử, nhân lúc Tết đến, Xuân về, bài này được viết lên như là một nén hương lòng kính dâng đến anh linh các chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa thuộc mọi quân, binh chủng, Cảnh Sát Quốc Gia, các Lực Lượng Đặc Biệt và Biệt Kích, lực lượng Xây Dựng Nông Thôn và các lực lượng bán quân sự... đã đem chính máu đào của mình ra bảo vệ miền Nam tự do chống lại nanh vuốt cộng sản xâm lược cho đến hơi thở cuối cùng. Hỡi những người tỵ nạn Việt Nam đang vui hưởng tự do, dân chủ tại các nước bên ngoài Việt Nam, hãy nhớ lấy cái căn cước tỵ nạn của mình và chớ quên ơn các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã vị quốc vong thân để cho mình và gia đình mình được sống còn trong thịnh vượng và hạnh phúc cho tới ngày nay!(V.P.)
Ghi chú:

(1) “Sau đó, Bắc quân tháo lui vì chịu không nổi phi pháo của VNCH ngày đêm dập vào các điểm trú quân của họ. Bộ chỉ huy cộng quân thấy khó giữ 1062, nên ra lệnh rút lui trong đêm tối...” (Ðại úy Võ Trung Tín và Ðại úy Nguyễn Hữu Viên, “35 Năm Nhớ Về Mặt Trận Thường Ðức”) (2) Trận Thường Ðức cũng còn là trận đánh vẻ vang để đời sau cùng của vị tư lệnh cuối cùng của Sư Ðoàn Nhảy Dù Việt Nam Cộng Hòa, Chuẩn tướng Lê Quang Lưỡng. Ông đã áp dụng chiến thuật xa luân chiến để hai Lữ Ðoàn Nhảy Dù thay phiên nhau giao tranh và gây thiệt hại nặng nề cho hai Sư Ðoàn 304 (Ðiện Biên) và 324B cùng một Trung Ðoàn của Sư Ðoàn 2 CSBV và các lực lượng địa phương.
BKT ghi thêm: Trong trận chiến tại Thường Đức này có sự tham dự của các Sĩ quan Khóa 10A-72/SQTB: TĐ1ND: Thiếu úy NBToản (ĐĐ11ND), Thiếu úy Bùi Định (ĐĐ12ND, TPB), Thiếu úy Vương Văn Kỳ (ĐĐ15ND). TĐ7ND: Thiếu úy Phan Tuấn Phi. -- BKT.

Monday, July 27, 2015

Ánh Sáng Của Tĩnh Lặng


Tâm bút một người cựu tù chính trị Việt Nam


Người Việt tập hợp tại Quảng trường Nhân quyền Trocadero để tham gia toạ kháng và phát truyền đơn về việc Cộng sản Việt Nam vi phạm Nhân quyền - photo by RFA

Đã từ rất lâu tôi không có mặt trong những dịp sinh hoat chính trị của người mình diễn ra ở quảng trường Nhân quyền / Trocadero Paris. Lần sau cùng tính tới hôm nay là lần Lê khả Phiêu sang Pháp năm 2000. Lần ấy tôi đến quảng trường nhân quyền vì có mặt hai người tôi kính trọng, đang chờ cho một cuộc trao đổi vội vã. Bạn tôi Nguyễn Điền Lăng sang từ Hòa Lan với mái tóc cứng đã muối tiêu và một người Hải Phòng mà tôi mến mộ: Nguyễn chí Thiện
Từ đó đến nay, tôi thu mình vào với những tình cảm riêng của anh em tôi, những người tù cô đơn đã suýt soát 20 năm cấm cố trong đói lạnh. Tôi đã sợ cộng đồng người mình, với sự dễ dãi la hét chống cộng, với những phút cuồng nộ đốt xé cờ quạt đối phương… và rồi sau đó là những lạnh lùng đến kinh ngạc từ vị trí những người nhân danh chiến sĩ vì tự do.

Sự nghi ngại đã quá lớn, chiếm hữu hầu hết không gian bảng lảng của môi trường chống chủ nghĩa cộng sản nơi Hải Ngoại! Sự buông tuồng đã đến mức báo động về những thái độ qui chụp vô tội vạ! Tâm lý mặc cảm đã nảy nở quá độ để không còn thấy ai bằng mình nơi đa phần những khuôn mặt nổi trội. Danh tiếng đảng hội đã chen bật uy danh của tổ quốc trên chiếu quyền lợi và nghĩa vụ chung. Tự mỗi người, từng ngày từng năm cần mẫn với những điều bé mọn của bản ngã riêng mình...
Hôm nay tôi trở lại quảng trường Trocadero vì những bàn tay yếu ớt đang vẫy gọi từ bên kia bờ quả đất, nơi tôi gọi là quê hương. Những bàn tay nhỏ nhắn và những nụ cười, cả những dòng nước mắt. Tôi đã ngần ngại và tôi đã vượt qua sự ngần ngại ấy. Ba mươi năm có lẻ, bản thân đã thấy đủ cho mình một chút quyền về sự quên lãng! Đắng cay đã nhiều! Mất mát đã dư! Đèo bồng xét ra không còn thiếu và ngã đổ dập vùi, sỉ nhục, lăng mạ… xét thấy đã quá đủ cho chọn lựa một cuộc sống thừa, qui ẩn chờ ngày tan rã vào tro bụi…


Tôi đã đến quảng trường, bắt gặp những nụ cười mạnh mẽ. Không có bóng dáng sự chỉ huy hay lèo lái nào ở đây. Mỗi người đến, nhẹ nhàng, hòa ái. Không đảng hội, không gào thét đốt xé mà hét vang Chúng Ta Là Một! Vì anh em nội địa, Chúng Tôi Là Một! Bóng cờ vàng phất phới chung với lá cờ Pháp trên quảng trường Nhân Quyền, nơi đây 67 năm về trước bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền đã được xướng lên, làm nền tảng ý thức và chuẩn mực sống cho toàn nhân loại 60 năm sau đó.



Nhiều người Việt tại Hà Nội hưởng ứng ngày Tổng Tuyệt Thực Toàn Cầu kêu gọi trả tự do cho Tù Nhân Lương Tâm trong nước hôm 25/7/2015 - Photo by RFA 2015-07-25
Không có những sự cực đoan của bên này hay bên kia. Không có sự chối bỏ nguồn gốc xuất thân của chính mình. Từ vị trưởng lão từng theo sát chân ông Hồ chí Minh đến những vị sĩ quan miền Nam quốc gia hàng chục năm trong tù ngục cộng sản. Bóng cờ vàng bay phần phật, mạnh mẽ như tiếng lòng họ trao đổi với nhau câu nói tiếng cười Chúng Ta Là Một.
Những mái tóc pha sương ngồi bên những mái đầu xanh tươi trẻ. Trong tĩnh lặng, đoàn người ấy hòa với năm châu bốn biển, quyện chặt lấy những bóng hình đang tĩnh lặng nơi đất Mẹ bỗng như toát ra một ánh sáng diệu kỳ. Thứ ánh sáng dẫn từng đoàn người bứt tung xích xiềng của sợ hãi! Thứ ánh sáng của năng lực tụ hội, yếu tố tối cần thiết cho sự thành công của bất kỳ cuộc đấu tranh cách mạng nào.

Cảm ơn Facebook! Cảm ơn những bàn tay nhỏ nhắn của thế hệ em tôi. Cuộc trường chinh chống chủ nghĩa tàn độc cộng sản đã được các em tự tin và đường bệ lật qua một trang mới. Lũ chúng tôi, lũ người đại diện của bốn mươi năm trường kỳ thất bại, hôm nay xin chân thành khom lưng xuống mong được là những bệ đá để các em ân cần bước lên, ngạo nghễ đi về phía mặt trời.

Paris / Trocadero
25.7.2015
Phạm Văn Thành

Sunday, July 26, 2015

 “Con trai hãy đem cho, con gái để lại nuôi!”

Tôi chỉ muốn con gái, sinh con trai thì đừng báo cho tôi biết!”, thoạt nghe thật khó hiểu! Người cha này kỳ lạ quá!
Một người họ Lý, vì gia cảnh nghèo khó nên đến tuổi 35 mới lấy được vợ là một người phụ nữ góa chồng cùng làng; về sau sinh được một người con trai, đặt tên là Sinh. Sinh học hành rất thông minh, dù mới chỉ tốt nghiệp trung học đã vượt xa những thanh niên khác trong làng. Anh được cán bộ đại đội đề cử đến dạy bậc tiểu học. Hai năm sau, anh lại được cán bộ đại đội đề cử đi học đại học.

Người cha thật không ngờ mình đã hơn ba mươi tuổi lại có được quý tử, lại là người đầu tiên trong làng được đi học đại học. Nhiều người trong làng rất nể phục ông, nói rằng:

“Sinh nó tốt nghiệp đại học xong, có công ăn việc làm ổn định, tương lai lập gia đình ở thành phố, rồi mai đây sẽ đưa ông bà lên thành phố tha hồ hưởng phúc. Ở làng này, ông Lý là nhất đấy nhé!”

Hai vợ chồng nghe thấy người ta nói lấy lòng mình như vậy cũng vui mừng không nói nên lời.






Sau khi Sinh tốt nghiệp đại học, anh được phân đến công tác tại cục Tài chính của huyện; nửa năm sau, anh quen biết một cô bạn gái, cô ấy tên là Tú Anh, nhà ở nông thôn, tốt nghiệp đại học xong, được phân về công tác tại cục Công Thương của huyện. Một năm sau, hai người kết hôn.

Một lần nọ, ông Lý lên thành phố tìm đến nhà con trai. Con dâu nhìn thấy cha chồng lần đầu tiên đến nhà, biết là có chuyện, bằng không sẽ không tìm đến đây, mới hỏi:

“Cha, hôm nay lần đầu tiên cha đến nhà, nhất định là có việc. Việc gì vậy? Cha nói đi! Con và chồng con, nhất định sẽ giải quyết cho cha!”

“Con đã hỏi, ta cũng không vòng vo. Gần đây trong nhà không có tiền, giờ lại đúng mùa cấy mạ, phải nhờ người làm giúp, mua phân hóa học cũng phải cần tiền. Hôm nay cha đến chính là cần mượn ít tiền mang về, giải quyết việc khẩn cấp”.

“Cha chỉ cần sai người thân tín đến nói một chút, cần bao nhiêu, chúng con sẽ gửi mang về, cha không cần tự mình đến thăm, số tiền này con cần thương lượng với chồng con một chút”.

Tú Anh đợi đến lúc chồng vừa về đến nhà, không đợi chồng chào hỏi cha, liền lôi chồng vào phòng nói:

“Cha của anh đến nhà nên em không ra ngoài mua đồ ăn được; trong nhà chỉ có rau, cha của anh cũng không phải khách quý, tiếp đãi tốt xấu thế nào, ông ấy già rồi không có so đo làm gì đâu! Hôm nay ông ấy đến xin tiền đấy, để về trả tiền phí tổn cấy mạ, anh nói xem bao nhiêu thì được?”

“Em nói cho bao nhiêu?”

“50 đồng thiết nghĩ cũng đủ rồi nhỉ? Anh cho 50 đồng nhé! Có thiếu thì cha sẽ nghĩ ra cách khác thôi”.

Tú Anh xào mấy món rau đơn giản qua loa tiếp đãi cha chồng. Sau buổi cơm, Tú Anh móc ra 50 đồng đưa cho cha chồng, nói:

“Đây là 50 đồng tiền trả phí tổn cấy mạ, như vậy đủ rồi nhé!”

Ông Lý cầm tiền, không nói lời nào, rầu rĩ trở về nhà.

Chỉ hai ngày sau, mẹ của Tú Anh tìm đến nhà. Tú Anh vừa thấy mẹ đến thăm liền ân cần hỏi thăm:

“Mẹ, có phải hôm nay mẹ cần tiền không?”

Mẹ của cô gật đầu một cái. Cô dặn dò mẹ ở nhà coi nhà rồi vội vàng đi mua cá, mua thịt, mua trứng gà…

Khi Sinh tan tầm về đến nhà, lúc cô kéo cửa ra, nói:

“Mẹ của em đã đến, anh hãy nhanh đi chào hỏi, đừng chậm trễ! Hôm nay mẹ cũng là đến xin tiền đấy, anh nói cho bao nhiêu là phù hợp?”

“Em nói cho bao nhiêu?” 

“Ít nhất 500 đồng mới được! Vậy cho 500 đồng nhé!” 

Tú Anh cầm 500 đồng đưa mẹ, mẹ cô vô cùng sung sướng trở về nhà.

Tú Anh mang thai, cô đem tin vui này báo cho chồng biết, hỏi chồng:

“Anh là muốn con trai hay là con gái?”

“Tốt nhất nên là con gái”.

“Cái con người anh thật kì lạ, muốn em sinh con gái, sinh con gái có gì mà tốt chứ?”

Sinh không nói lời nào.

Chỉ trong chớp mắt, Tú Anh đã mang thai được tám tháng; cô phải về nhà mẹ đẻ dưỡng thai chờ sinh. Lúc gần đi, Sinh trịnh trọng nói với vợ:

“Nếu em sinh con gái thì hãy kịp thời báo cho anh biết; còn nếu như sinh con trai, thì không cần báo, tốt nhất là đem cho người khác”.

“Anh bị sao vậy? Tại sao không thích con trai chứ?”

Sinh cũng không trả lời vợ một câu.

Một ngày, Sinh nhận được lời nhắn của mẹ vợ nói là Tú Anh đã sinh được một thiên kim tiểu thư; nghe xong Sinh sung sướng nhảy dựng lên. Anh liền đến đơn vị xin nghỉ phép, thông báo là vợ của mình sinh con gái, anh ta muốn đến nhà mẹ vợ thăm con gái. Lãnh đạo chúc mừng anh, cũng đồng ý cho anh nghỉ phép.

Sinh mua 16 con gà, 300 cái trứng gà, còn có rất nhiều thuốc bổ, dùng cả gánh tiền mua đồ đạc, vô cùng vui vẻ đến nhà mẹ vợ. Sau khi vào nhà, đem mọi thứ đặt trên bàn cơm ở phòng bếp, không đợi uống nước trà mẹ vợ đưa, liền chạy vào phòng.

Anh bước đến giường vợ, không nói lời nào, liền xốc chăn đang đắp trên người vợ lên:

“Em cho anh xem xem rốt cuộc là con gái, hay là con trai”.

“Bảo đảm anh sẽ vui”.

Sinh ôm lấy con, đặt lên chăn, không thể chờ đợi thêm liền vạch quần áo con ra xem thì thấy không phải con gái, tức giận quát lớn:

“Các người tại sao lừa gạt tôi? Tú Anh, cô chẳng lẽ đã quên tôi từng nói rằng sinh con trai không cần nói cho tôi biết sao?”

Sinh nói xong, ra khỏi phòng, cầm lấy đồ đạc trên bàn cơm trong phòng bếp rồi đi, cũng nói:

“Đứa con này tôi không muốn, các ngươi thích ai thì cho người đó”.

Mẹ vợ thấy con rể giận dữ, liền giữ chặt tay con rể nói:

“Người ta sinh con trai thì đặc biệt vui mừng, còn con vì sao lại muốn đem con cho người khác? Hôm nay nhất định phải nói rõ vì sao thì mới có thể ra khỏi cái nhà này”.

Sinh đứng nói:

“Cha mẹ của con sinh con ra, vất vả nuôi con khôn lớn, cho con học hành, lên đại học, kết hôn, đã tốn hết bao nhiêu của cải. Thế nhưng con từ lúc làm việc đến nay, ngày lễ tết trở về lúc nào cũng hai bàn tay trắng, sinh nhật cha mẹ cũng không có được một chút quà mọn. Từ khi kết hôn đến nay, cha con bất đắc dĩ mới đến thăm một lần muốn một ít tiền trả tiền phí cấy mạ thì con gái yêu của mẹ chỉ đưa cho ông 50 đồng, 50 đồng này thì làm được cái gì chứ? Cha con cầm 50 đồng, ngậm nước mắt ra đi, đã nói một câu “Sinh con trai thì được gì chứ?”. Lúc con nghe câu đó xong, trong lòng của con đau như chảy máu. Mẹ nói đi! Vậy thì con cần con trai làm cái gì chứ?”

“Sinh à, mẹ không biết con gái mẹ đối đãi với cha mẹ con không hiếu đạo như vậy, chỉ trách cha mẹ không dạy dỗ nó gia giáo. Con muốn đi, mẹ cũng không có mặt mũi nào giữ con lại, con hãy đem vợ con đi đi, đừng để nó ở lại nhà của mẹ nữa”.

Mẹ vợ anh buông tay ra, bước vào phòng, đứng trước giường con gái, tốc chăn lên, tức giận nói:

“Mày ôm con mày cút ra khỏi nhà, tao không có đứa con gái như vậy!”

“Mẹ, con sai rồi, sau này con nhất định sẽ sửa, nhất định hiếu kính cha mẹ chồng, mẹ cho con ở lại những ngày trong tháng rồi con đi, con xin mẹ!”

Sinh nghe hai người nói qua lại, biết rằng mục đích của mình đã đạt được, bèn buông đồ đạc xuống, bước vào nói:

“Mẹ đừng nóng giận, con gái đã nhận lỗi, mẹ hãy cho cô ấy một cơ hội, để cô ấy ở lại. Hai mẹ con ăn uống, cả công mẹ chăm sóc giúp đỡ, con sẽ tính toán rõ ràng không thiếu một đồng”.

“Chỉ cần nó giữ lời nói, mẹ có thể để nó ở lại, tiền chăm sóc mẹ không muốn”.

Sinh ở lại chăm sóc vợ, mãi đến ngày nghỉ hết mới đi.

Cha mẹ cả đời nuôi ta khôn lớn, hy sinh cho ta rất nhiều. Khi chúng ta lớn lên, dần dần có tư tưởng có suy nghĩ riêng của mình. Lúc này, chúng ta không nên nghĩ ngợi lung tung, mà hãy nhớ thật kỹ những năm tháng công ơn nuôi dưỡng của cha mẹ. Tuy là nói hiếu thuận với cha mẹ cũng được ghi vào luật pháp, nhưng hiếu thuận với cha mẹ không cần phải để luật pháp quy định mới làm, mà là tự giác vì đó chính là đạo lý làm người.

Chúng ta ngày từng ngày lớn lên, cha mẹ ngày từng ngày già đi, dần dần tóc chuyển sang màu trắng, trước kia khi còn bé không hiểu chuyện, trông thấy cha mẹ tóc trắng chỉ biết cười ha hả nói ông bà già rồi. Hiện tại nhớ tới, cha mẹ tang thương, vất vả, cũng là vì chúng ta con cái hạnh phúc, vì cho chúng ta một hoàn cảnh tốt đẹp để chúng ta trưởng thành.

Nói về phận làm con dâu, con rể, sự hiếu thuận với cha mẹ chồng/vợ cũng không kém phần quan trọng. Cha mẹ của chồng, của vợ cũng như chính cha mẹ của mình, cũng vất vả nuôi con khôn lớn, về già cũng mong mỏi được nương tựa vào con cái. Nhờ cha mẹ chồng, mình mới có người chồng mẫu mực, thành đạt trong cuộc sống; nhờ cha mẹ vợ, mình mới có được người vợ nết na, chu đáo. Thương yêu họ cũng chính là thương vợ, thương chồng, thương con cái của mình. Gieo nhân nào gặt quả ấy! Hãy là tấm gương cho con cháu, hãy thương yêu trọn vẹn những người có duyên phận trong cuộc đời này của mình.

Hồng Mạnh
theo Tinh hoa
@internet