Friday, July 25, 2014

NVHN

San Francisco:
Biểu tình chống Trung cộng và Việt cộng ngày 19-7-2014


 

Thursday, July 24, 2014

NVHN

Việc Thi Hành Hiệp Định Genève

Nhân kỷ niệm 60 năm hiệp định Genève (20-7-1954), chúng ta thử nhìn lại Bắc Việt Nam (BVN) dựa vào lý do nào để khởi binh tấn công Nam Việt Nam (NVN)?

1.- HIỆP ĐỊNH GENÈVE 

Danh xưng chính thức đầy đủ của hiệp định Genève về Việt Nam là Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam. Hiệp định nầy được viết bằng hai thứ tiếng Pháp và Việt, có giá trị như nhau. Hai nhân vật chính ký vào hiệp định Genève là Henri Delteil, thiếu tướng, thay mặt Tổng tư lệnh Quân đội Liên Hiệp Pháp ở Đông Dương và Tạ Quang Bửu, thứ trưởng Bộ Quốc phòng chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH tức Việt Minh cộng sản). Đại diện các nước khác cùng ký vào hiệp định Genève còn có Anh, Liên Xô, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (Trung Cộng), Lào, Cambodia. Chính phủ Quốc Gia Việt Nam (QGVN) và Hoa Kỳ không ký vào bản hiệp định nầy.

Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam (gọi tắt là hiệp định Genève) gồm có 6 chương, 47 điều, trong đó các điều chính như sau:
Việt Nam được chia thành hai vùng tập trung, ranh giới tạm thời từ cửa sông Bến Hải, theo dòng sông, đến làng Bồ-Hô-Su và biên giới Lào Việt. [Cửa sông Bến Hải tức Cửa Tùng, thuộc tỉnh Quảng Trị. Sông Bến Hải ở vĩ tuyến 17 nên người ta nói nước Việt Nam được chia hai ở vĩ tuyến 17.] Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ở phía bắc (tức Bắc Việt Nam) và Quốc Gia Việt Nam ở phía nam (tức Nam Việt Nam). Dọc hai bên bờ sông, thành lập một khu phi quân sự rộng 5 cây số mỗi bên, để làm “khu đệm”, có hiệu lực từ ngày 14-8-1954. Thời hạn tối đa để hai bên rút quân là 300 ngày kể từ ngày hiệp định có hiệu lực. Cuộc ngưng bắn bắt đầu từ 8 giờ sáng ngày 27-7 ở Bắc Việt, 1-8 ở Trung Việt và 11-8 ở Nam Việt. Mỗi bên sẽ phụ trách tập họp quân đội của mình và tự tổ chức nền hành chánh riêng. Cấm phá hủy trước khi rút lui. Không được trả thù hay ngược đãi những người đã hợp tác với phía đối phương. Trong thời gian 300 ngày, dân chúng được tự do di cư từ khu nầy sang khu thuộc phía bên kia. Cấm đem thêm quân đội, vũ khí hoặc lập thêm căn cứ quân sự mới. Tù binh và thường dân bị giữ, được phóng thích trong thời hạn 30 ngày, kể từ khi thực sự ngừng bắn. Sự giám sát và kiểm soát thi hành hiệp định sẽ giao cho một Uỷ ban Quốc tế. Thời hạn rút quân riêng cho từng khu vực kể từ ngày ngừng bắn: Hà Nội (80 ngày), Hải Dương (100 ngày), Hải Phòng (300 ngày), miền Nam Trung Việt (80 ngày), Đồng Tháp Mười (100 ngày), Cà Mau (200 ngày). Đợt chót ở khu tập kết Trung Việt (300 ngày).

2.- AI VI PHẠM HIỆP ĐỊNH GENÈVE ?

Hiệp định Genève ký kết ngày 20-7-1954 chỉ là một hiệp định có tính cách thuần tuý quân sự. Cũng giống như hiệp ước đình chiến Panmunjom (Bàn Môn Điếm) ngày 27-7-1953 ở Triều Tiên, hiệp định Genève không phải là một hòa ước, và không đưa ra một giải pháp chính trị nào cho tương lai Việt Nam.

Chính phủ QGVN dưới quyền quốc trưởng Bảo Đại và thủ tướng Ngô Đình Diệm lo tập trung và rút toàn bộ lực lượng của mình về miền Nam vĩ tuyền 17 đúng thời hạn và đúng theo quy định của hiệp định. Điều nầy chẳng những báo chí lúc bấy giờ đã trình bày, mà cho đến nay, chẳng có tài liệu sách vở nào cho thấy là chính phủ QGVN đã gài người hay lưu quân ở lại đất Bắc. Như thế, trong việc thi hành hiệp định Genève, chính phủ QGVN đã thi hành đúng đắn hiệp định.

Trái lại, nhà nước VNDCCH do Việt Minh cộng sản cầm đầu đã không tuân hành quy định trong hiệp định Genève. Sau đây là hai bằng chứng cụ thể do phía cộng sản đưa ra về sau:

Thứ nhứt, tại hội nghị Liễu Châu (Liuzhou) thuộc tỉnh Quảng Tây (Kwangsi), giữa thủ tướng Trung Cộng Chu Ân Lai và chủ tịch nhà nước VNDCCH Hồ Chí Minh từ ngày 3 đến ngày 5-7-1954, tức trước khi hiệp định Genève được ký kết, Hồ Chí Minh đã đưa ra kế hoạch là sẽ chỉ rút những người làm công tác chính trị bị lộ diện; phần còn lại thì ở lại để chờ đợi thời cơ nổi dậy. Số ở lại có thể đến 10,000 người. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, bản dịch của Dương Danh Dy, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 “Hội nghị Liễu Châu then chốt”. Nguồn: Internet).

Thứ hai, Việt Minh cộng sản chẳng những chôn giấu võ khí, lưu 10,000 cán bộ, đảng viên ở lại Nam Việt Nam, mà còn gài những cán bộ lãnh đạo cao cấp ở lại miền Nam như Lê Duẫn, Võ Văn Kiệt, Mai Chí Thọ, Cao Đăng Chiếm… (Huy Đức, Bên thắng cuộc, tập I: Giải phóng, New York: Osinbook, 2012, tt. 271-273), để chỉ huy Trung ương cục miền Nam (TƯCMN). Trung ương cục miền Nam được thành lập ngày 20-1-1951, chỉ huy toàn bộ hệ thống cộng sản ở Nam Việt Nam. (Tháng 10-1954, TƯCMN đổi thành Xứ ủy Nam Bộ. Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành TƯĐ (khóa III) đảng LĐ (ngày 23-1-1961) ở Hà Nội, Xứ ủy Nam Bộ trở lại thành TƯCMN.)

Hai tài liệu trên đây do phía cộng sản Việt Nam tiết lộ, chứ không phải tài liệu tuyên truyền của NVN hay Tây Phương. Như vậy, rõ ràng trong khi chính phủ QGVN tôn trọng hiệp định Genève, nhà nước VNDCCH đã có kế hoạch vi phạm hiệp định, ngay khi trước khi hiệp định được ký kết và cả sau khi hiệp định được ký kết.

3.- BẮC VIỆT NAM ĐÒI HỎI ĐIỀU KHÔNG CÓ

Hiệp định Genève chỉ là một hiệp định đình chiến, thuần túy quân sự và không đưa ra một giải pháp chính trị. Trong khi chính Bắc Việt Nam (BVN) vi phạm hiệp định Genève, thì ngày 19-7-1955, thủ tướng BVN là Phạm Văn Đồng gởi thư cho thủ tướng Nam Việt Nam (NVN) là Ngô Đình Diệm yêu cầu mở hội nghị hiệp thương bắt đầu từ ngày 20-7-1955, như đã quy định trong hiệp định Genève ngày 20-7-1954, để bàn về việc tổng tuyển cử nhằm thống nhất đất nước. (John S. Bowman, The Vietnam War, Day by Day, New York: The Maillard Press, 1989, tr. 17.) Ngày 10-8-1955, thủ tướng Ngô Đình Diệm bác bỏ đề nghị của Phạm Văn Đồng, vì cho 1955 rằng chính phủ QGVN tức NVM không ký các văn kiện Genève nên không bị ràng buộc phải thi hành.

Tuy sau đó chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), thay chính phủ QGVN, nhiều lần từ chối, Phạm Văn Đồng vẫn nhắc lại đề nghị nầy hằng năm vào các ngày 11-5-1956, 18-7-1957, và 7-3-1958, để chứng tỏ BVN quan tâm đến chuyện thống nhứt đất nước, và nhằm tuyên truyền với các nước trên thế giới. Lần cuối, Ngô Đình Diệm, lúc đó là tổng thống VNCH, bác bỏ đề nghị của Phạm Văn Đồng vào ngày 26-4-1958.

Một điều lạ lùng là trong hiệp định Genève, không có một điều khoản nào nói đến việc tổ chức tổng tuyển cử để thống nhất đất nước mà nhà cầm quyền CS cứ nhất định đòi hỏi tổ chức tổng tuyển cử theo hiệp định Genève. Thật ra, sau khi hiệp định về đình chỉ chiến sự ở Việt Nam, ở Lào và ở Cambodia được ký kết, các phái đoàn tham dự hội nghị Genève họp tiếp vào ngày 21-7-1954, nhằm bàn thảo bản “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương”. Bản tuyên bố gồm 13 điều; quan trọng nhất là điều 7, ghi rằng:
“Hội nghị tuyên bố rằng đối với Việt Nam, việc giải quyết các vấn đề chính trị thực hiện trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, sẽ phải làm cho nhân dân Việt Nam được hưởng những sự tự do căn bản, bảo đảm bởi những tổ chức dân chủ thành lập sau tổng tuyển cử tự do và bỏ phiếu kín. Để cho việc lập lại hòa bình tiến triển đến mức cần thiết cho nhân dân Việt Nam có thể tự do bày tỏ ý nguyện, cuộc Tổng tuyển cử sẽ tổ chức vào tháng 7-1956 dưới sự kiểm soát của một Ban Quốc tế gồm đại biểu những nước có chân trong Ban Giám sát và Kiểm soát Quốc tế đã nói trong Hiệp định đình chỉ chiến sự. Kể từ ngày 20-7-1955 những nhà đương cục có thẩm quyền trong hai vùng sẽ có những cuộc gặp gỡ để thương lượng về vấn đề đó.” (Thế Nguyên, Diễm Châu, Đoàn Tường, Đông Dương 1945-1973, Sài Gòn: Trình Bày, 1973, tr. 53. Xem bản Pháp văn của tuyên ngôn nầy, vào: google.com.fr., chữ khóa: Déclaration finale de la Conférence de Genève en 1954.)

Chủ tịch phiên họp là Anthony Eden (ngoại trưởng Anh) hỏi từng phái đoàn, thì bảy phái đoàn là Anh, Pháp, Liên Xô, CHNDTH, VNDCCH, Lào và Cambodge trả lời miệng rằng “đồng ý”. (Hoàng Cơ Thụy, Việt sử khảo luận, cuốn 5, Paris: Nxb. Nam Á 2002, tr. 2642.) Tất cả bảy phái đoàn đều trả lời miệng chứ không có phái đoàn nào ký tên vào bản tuyên bố, nghĩa là bản tuyên bố không có chữ ký.

Đây chỉ là lời tuyên bố (déclaration) của những phái đoàn, có tính cách dự kiến một cuộc tổng tuyển cử trong tương lai ở Việt Nam, không có chữ ký, thì chỉ có tính cách gợi ý, hướng dẫn chứ không có tính cách cưỡng hành. Một văn kiện quốc tế không có chữ ký thì làm sao có thể bắt buộc phải thi hành? Hơn nữa, những hiệp định với đầy đủ chữ ký mà còn bị CSVN vi phạm trắng trợn, huống gì là bản tuyên bố không chữ ký.

Phái đoàn QGVN và phái đoàn Hoa Kỳ không ký vào hiệp định Genève ngày 20-7-1954 và cũng không đồng ý bản “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương” ngày 21-7-1954. Hai phái đoàn QGVN và Hoa Kỳ đã đưa ra tuyên bố riêng của mỗi phái đoàn để minh định lập trường của chính phủ mình.

4.- BẮC VIỆT NAM BỊA ĐẶT LÝ DO ĐỂ TẤN CÔNG MIỀN NAM

Cộng sản BVN vi phạm hiệp định Genève ngay khi hiệp định nầy chưa được ký kết, nhưng lại bịa đặt ra hai lý do để tấn công NVN: 1) Nam Việt Nam không tôn trọng hiệp định Genève về việc tổ chức tổng tuyển cử thống nhất đất nước. 2) Nam Việt Nam là tay sai đế quốc Mỹ nên BVN quyết định chống Mỹ cứu nước.

Về lý do thứ nhứt, như trên đã viết, hiệp định Genève không đề cập đến giải pháp chính trị tương lai cho Việt Nam. Giải pháp tổng tuyển cử nằm trong điều 7 của bản “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương”. Bản tuyên bố nầy lại không có chữ ký của bất cứ phái đoàn nào, nên chỉ có tính cách khuyến cáo chứ không có tính cách bắt buộc phải thi hành.

Lý do thứ hai hoàn toàn có tính cách tưởng tượng vì sau năm 1954, Hoa Kỳ viện trợ kinh tế cho Nam Việt Nam tái thiết đất nước, ổn định cuộc sống của dân chúng sau chiến tranh, chứ Hoa Kỳ không viện trợ quân sự, chưa đem quân vào Việt Nam.
Nếu để cho VNCH yên bình xây dựng kinh tế với sự trợ giúp của Hoa Kỳ, thì đến một lúc nào đó chắc chắn VNCH với nền kinh tế tự do sẽ phát triển và vượt xa VNDCCH với nền kinh tế chỉ huy theo đường lối cộng sản. Đó chính là điều mà VNDCCH thực sự lo lắng.
Sự giúp đỡ của Hoa Kỳ cho NVN chẳng những khiến BVN rất quan ngại, mà sự hiện diện của người Hoa Kỳ tại NVN còn khiến cho cả Trung Cộng chẳng yên tâm.

Lúc đó, Hoa Kỳ đang giúp Trung Hoa Dân Quốc bảo vệ Đài Loan (Taiwan), chống Trung Cộng. Hoa Kỳ còn giúp bảo vệ Nam Triều Tiên và Nhật Bản, nên Trung Cộng mạnh mẽ chống đối Hoa Kỳ chẳng những tại Đông Á, mà còn chống Hoa Kỳ khắp nơi trên thế giới, hơn cả Liên Xô chống Hoa Kỳ. Nay người Hoa Kỳ lại có mặt ở NVN, gần sát với Trung Cộng, nên Trung Cộng rất quan ngại cho an ninh phía nam của chính Trung Cộng.
Hơn nữa, cho đến năm 1960 là năm BVN khởi động chiến tranh tấn công NVN, Hoa Kỳ chỉ viện trợ kinh tế cho NVN chứ Hoa Kỳ không đem quân vào NVN. Chỉ sau khi BVN tấn công và uy hiếp mạnh mẽ NVN, Hoa Kỳ mới đem quân vào giúp NVN năm 1965. Vì vậy, chiêu bài “chống Mỹ cứu nước” năm 1960 là hoàn toàn hoang tưởng.

Như thế, BVN cố tình đưa ra chiêu bài “chống Mỹ cứu nước” vừa để kêu gọi lòng yêu nước của người Việt Nam vốn có tinh thần chống ngoại xâm, vừa để xin viện trợ cộng sản quốc tế và thi hành nghĩa vụ quốc tế, như Lê Duẫn đã từng nói “Ta đánh Mỹ là đánh cho cả Trung Quốc, cho Liên Xô”. (Nguyễn Mạnh Cầm, ngoại trưởng CSVN từ 1991-2000, trả lời phỏng vấn đài BBC ngày 24-1-2013.)

KẾT LUẬN

Hiệp định Genève là hiệp định đình chỉ quân sự. Chính thể QGVN hay VNCH tức NVN đã thi hành đúng hiệp định Genève, trong khi VNDCCH tức BVN liên tục vi phạm hiệp định nầy. Do tham vọng quyền lực, do chủ trương bành trướng chủ nghĩa cộng sản và do làm tay sai cho Liên Xô và Trung Cộng, VNDCCH tức BVN mở cuộc chiến từ năm 1960, tấn công Việt Nam Cộng Hoà tức NVN dưới chiêu bài thống nhất đất nước và chống Mỹ cứu nước.

Nhân kỷ niệm 60 năm hiệp định Genève, xin ôn lại điều nầy để giới trẻ trong và ngoài nước thấy rõ nguyên nhân của cuộc chiến 1960-1975, làm cho đất nước điêu tàn và khoảng 3 triệu người Việt tử vong, xuất phát từ VNDCCH hay BVN do đảng Lao Động hay đảng Cộng Sản Việt Nam điều khiển.

Điều nầy càng làm sáng tỏ chính nghĩa của VNCH, cương quyết chống lại CSBVN, bảo vệ nền tự do dân chủ ở NVN, chống lại sự xâm lăng của cộng sản và sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản. Dầu thất bại, chính nghĩa tự do dân chủ của VNCH vẫn luôn luôn sáng ngời và luôn luôn là mục tiêu tối hậu mà nhân dân Việt Nam hiện đang cố gắng vươn tới.

TRẦN GIA PHỤNG
(Toronto, 20-7-2014)
@nguoivietboston

Wednesday, July 23, 2014

MH17


Vụ MH17
 Diễn văn của Ngoại trưởng Hà Lan                        

Trong lúc Nga và phương Tây còn đang mải mê tố cáo và đổ lỗi lẫn nhau theo kiểu Chiến tranh Lạnh liên quan đến vụ bắn rơi chiếc máy bay MH17, Ngoại trưởng Hà Lan, quốc gia có số công dân chiếm 2/3 hành khách trên máy bay đã có một bài phát biểu đầy xúc động khiến các đại biểu tham dự cuộc họp của Liên Hợp Quốc lặng người.

 - 1Với những lúc nghẹn lời vì quá xúc động, Ngoại trưởng Frans Timmermans đã nói với cả Liên Hợp Quốc về cú sốc của ông khi nhìn cách người ta đối xử với thi thể của các nạn nhân, cách thức đưa tin kiểu xâu xé của giới truyền thông, và những mù mờ trong các thông tin liên quan đến thảm kịch.(Ngoại trưởng Timmermans có bài phát biểu đầy xúc động trước cuộc họp của Liên Hợp Quốc)

Mở đầu bài phát biểu, ông nói: “Chúng ta có mặt ở đây để bàn về một thảm kịch, một vụ bắn rơi máy bay dân dụng, và về cái chết của 298 con người vô tội”.
“Đàn ông, phụ nữ và rất nhiều trẻ em đã bị cướp đi mạng sống khi đang trên đường đi du lịch, về nhà, về với người thân yêu hay thực hiện các nghĩa vụ quốc tế, chẳng hạn như hội nghị quốc tế về AIDS diễn ra ở Úc”.
“Từ thứ Năm tuần trước, tôi vẫn cứ nghĩ mãi về sự khủng khiếp đến mức nào mà họ phải chịu trong thời khăc cuối cùng, khi họ biết rằng máy bay đang chuẩn bị đâm xuống đất”.

 - 2“Họ có được nắm chặt tay với những người thân yêu, có được ôm con cái vào sát trái tim mình hay không? (ông Timmermans lặng đi một lúc) Họ có được nhìn vào mắt nhau vào giây phút cuối cùng để trao nhau lời vĩnh biệt không nói thành lời hay không? Chúng ta sẽ không bao giờ biết được”.(Những em bé vô tội thiệt mạng trên chuyến bay MH17)

Ngoại trưởng Timmermans tiếp tục: “Sự ra đi của gần 200 đồng bào của tôi đã để lại một vết thương lớn trong trái tim của dân tộc Hà Lan, gây ra nỗi đau, sự tức giận và tuyệt vọng. Đau vì mất đi những người thân yêu. Tức giận vì họ bắn hạ một chiếc máy bay dân sự. Và tuyệt vọng vì chứng kiến quá trình chậm chạp đến đau đớn của việc bảo vệ hiện trường và thu thập thi thể nạn nhân.”

Hôm qua, lực lượng ly khai Ukraine đã đồng ý cho một con tàu đặc biệt đã chở 282 thi thể nạn nhân tới thành phố Kharkiv để sau đó chuyển tiếp về Hà Lan bằng máy bay quân sự. Ông Timmermans cho rằng việc “đối xử tôn trọng và trao trả các thi thể không chậm trễ” là một hành động thuộc về lòng nhân đạo.

 - 3
Ông nói: “Trong những ngày qua, chúng tôi nhận được thông tin rằng thi thể các nạn nhân đã bị tự ý di chuyển, tài sản của họ bị cướp bóc. Chỉ một phút thôi, tôi muốn nói rằng tôi không phát biểu với các bạn trên tư cách là đại biểu của các quốc gia, mà với tư cách là những người chồng, người vợ, người cha, người mẹ, xin các bạn hãy tưởng tượng như vậy”.(Các nhân viên cứu hộ tìm kiếm tại hiện trường máy bay rơi)

“Hãy tưởng tượng xem khi bạn nhận được tin rằng chồng bạn vừa mới bị sát hại, và trong hai ba ngày tiếp theo, bạn nhìn thấy hình ảnh những kẻ hôi của lấy chiếc nhẫn cưới ra khỏi tay ông ấy”.

 - 4“Cho tới lúc chết, tôi vẫn không bao giờ hiểu được rằng tại sao các nhân viên cứu hộ lại mất nhiều thời gian như vậy mới được thực hiện nhiệm vụ đầy khó khăn của mình. Vì các thi thể đó đã bị lợi dụng cho một trò chơi chính trị chăng? Nếu ai đó ở đây nói về trò chơi chính trị, thì nó đây, trò chơi chính trị được bày ra bằng xác người, và nó thật đáng khinh miệt”.(Đoàn tàu chở thi thể các nạn nhân chuẩn bị khởi hành về Kharkiv)

Ngoại trưởng Timmermans kết thúc bài phát biểu của mình: “Tôi hy vọng rằng thế giới sẽ không còn phải chứng kiến điều này xảy ra nữa. Những hình ảnh đồ chơi trẻ em bị quăng quật, hành lý bị mở tung, hộ chiếu trẻ em bị trưng ra trước ống kính. Họ đã biến nỗi đau và lòng thương xót của chúng ta thành nỗi tức giận của một quốc gia. Chúng tôi yêu cầu được tiếp cận không hạn chế với hiện trường máy bay rơi, yêu cầu thi thể nạn nhân được đối xử một cách tôn trọng, yêu cầu giữ gìn phẩm giá của các nạn nhân và những người thân đang chịu đựng mất mát. Họ xứng đáng được trở về nhà.”

Sau bài phát biểu đầy xúc động này của Ngoại trưởng Timmermans, Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc đã nhất trí thông qua nghị quyết “lên án bằng những từ ngữ mạnh mẽ nhất” vụ tấn công khiến MH17 bị rơi ở Ukraine. Cơ quan Hàng không Dân dụng Liên Hợp Quốc đã được chỉ thị thực hiện một cuộc điều tra quốc tế về thảm kịch này, và lực lượng ly khai Ukraine phải tạo điều kiện cho các điều tra viên tiếp cận không bị hạn chế với hiện trường máy bay rơi.
           
Trí Dũng
 (Theo Huffington Post)

Tuesday, July 22, 2014

Giang Thanh

Bí ẩn lớn nhất trong “di chiếu”
 của Mao Trạch Đông

Giang Thanh tại “phiên tòa thế kỷ” (ảnh tư liệu Internet)
Tại “phiên tòa thế kỷ” (tháng 11.1980), hơn 850 người ngồi ở ghế dự thính đã vỗ tay tán thưởng khi Giang Thanh bất ngờ tiết lộ thêm 6 chữ trong “mật chiếu” của Mao Trạch Đông viết cho Hoa Quốc Phong trước ngày qua đời...(R. Giang Thanh tại “phiên tòa thế kỷ” (ảnh tư liệu Internet)

Giang Thanh giữ thái độ cứng cỏi, một mực phủ nhận tội trạng của mình, có lúc dám cương giọng hô khẩu hiệu “đặc sản” của thời cách mạng văn hóa trước tòa làm mọi người bất bình. Khi bị vạch tội cướp quyền và công kích Hoa Quốc Phong, Giang Thanh lớn tiếng phản bác:

- “Tôi muốn cho các vị biết một việc, câu “đồng chí làm việc tôi yên tâm” Mao Chủ tịch viết cho Hoa Quốc Phong tối hôm đó không phải là toàn bộ nội dung Mao viết cho Hoa, ít nhất còn thiếu 6 chữ “có vấn đề, hỏi Giang Thanh”.

Mấy câu trên của Giang khiến phiên tòa đại loạn. Giang cười nhạt:
- Ta bất chấp phép nước, đạo trời ư?

Trong những hồi chuông dồn dập, Giang một lần nữa bị lôi ra khỏi phòng xử án, nhưng trên những hàng ghế dự thính, mọi người vỗ tay rầm rộ, đây là những lời khen chân tình, bởi Giang Thanh đã vạch ra một sự thật quan trọng nhất: Người kế tục mà Mao chỉ định là Giang, chứ không phải là Hoa Quốc Phong. Hoa chỉ là viên cận thần có việc cần thỉnh thị Nữ hoàng.

Hoa làm việc Mao yên tâm, nhưng không phải Hoa muốn làm gì thì làm, mà phải thỉnh thị Giang, làm theo chỉ thị của Giang” - theo Tân Tử Lăng.

Sáu chữ trong mật chiếu của Mao “có vấn đề - hỏi Giang Thanh” mặc nhiên đặt vị trí Giang Thanh lên trên Hoa Quốc Phong (Thủ tướng - Phó Chủ tịch đảng thứ nhất). Sớm biết vị trí đó, khi Mao nằm trên giường bệnh, Giang Thanh đã dám đứng lên công khai phê bình Hoa Quốc Phong tại Hội nghị công tác kế hoạch toàn quốc ngày 1.8.1976.

Các tuần lễ tiếp đó, Giang Thanh ôm “giấc mộng Nữ hoàng” của mình đi diễn giảng khắp nơi. Hồi ký của vệ sĩ Trần Trường Giang nhắc chuyện Giang Thanh đến Đại học Thanh Hoa, Đại học Bắc Kinh, nhà máy in Tân Hoa với “danh nghĩa thị sát” để “kích động phản cách mạng, nhằm mở rộng tầm ảnh hưởng” (28.8), đến thăm liên đội anh hùng ở quân khu Tế Nam để “cổ xúy cho “chủ nghĩa đại nữ tử” không bắt tay với đàn ông, và còn nói: “Chủ tịch không còn nữa, tôi sẽ trở thành quả nhân”.

Trong từ vựng của tiếng Trung, từ “quả nhân” có hàm nghĩa đặc biệt, đây là cách xưng hô của các vị vua. Bà Giang Thanh nói ra những lời này tại thời điểm đó (lúc Mao Trạch Đông sắp mất), tại địa điểm đó (quân khu Tế Nam) không phải là ngẫu nhiên hay vô ý, mà đã ngang nhiên bộc lộ tham vọng quyền lực của mình” qua cách “chơi chữ” hai mặt (30.8 ). Lúc Mao Trạch Đông rơi vào hôn mê  sâu (8.9), Giang Thanh “lấy lý do giúp Mao Chủ tịch trở mình” để lật người Mao trên giường bệnh dò soát lần cuối xem còn sót di thư nào không và “tìm chìa khóa tủ tài liệu của Mao Chủ tịch” - nửa khuya hôm ấy Mao qua đời.

Đã có chuyện một số tỉnh “đua nhau gửi thư ủng hộ Giang Thanh làm chủ tịch đảng”. Sau này ban chuyên án cũng thu bản danh sách lãnh đạo trung ương theo dự kiến của Giang Thanh: Chủ tịch đảng: Giang Thanh. Phó Chủ tịch đảng : Trương Xuân Kiều, Vương Hồng Văn, Diêu Văn Nguyên, Tôn Ngọc Quốc, Mao Viễn Tân. Thường vụ Bộ Chính trị: ngoài sáu  người trên, thêm: Tạ Tĩnh Nghi, Trương Thu Kiều, Vương Tú Trân. Chủ tịch Quốc hội: Vương Hồng Văn. Thủ tướng: Trương Xuân Kiều”. Danh sách trên gạt hẳn Hoa Quốc Phong ra ngoài. Ý đồ của Mao là đưa “Giang Thanh lên nắm quyền”, sau đó Giang Thanh sẽ “truyền ngôi” lại cháu ruột của Mao là Mao Viễn Tân.

Về Mao Viễn Tân, tài liệu Tân Tử Lăng ghi:
Trước khi vào Trung Nam Hải, Mao Viễn Tân là Bí thư Tỉnh ủy Liêu Ninh, Chính ủy Đại quân khu Thẩm Dương. Từ 10.10.1975, Mao Viễn Tân được cử làm “liên lạc viên” cho Mao. Bộ chính trị họp, Mao Viễn Tân ngồi trên ghế Chủ tịch truyền đạt “khẩu dụ” của Mao. Y coi các ủy viên Bộ chính trị như cấp dưới, đã có lần y nói: “Tôi thuận miệng nói vài câu, đủ để bọn họ học tập mấy tháng ròng”.

Điều bí ẩn lớn nhất nằm ở mục đích cuối cùng của Mao được che đậy khéo léo để mọi người không dễ nhận biết, đó là: “khoác chiếc áo lý luận hiện đại nhất, cách mạng nhất” đẩy nước Trung Hoa trở lại thời vua chúa, thiết lập trật tự của “chủ nghĩa xã hội phong kiến” - để làm gì? Tân Tử Lăng giải đáp từ “gốc rễ” của vấn nạn:

“Thông qua Đại cách mạng văn hóa, Mao hầu như đã trị hết các công thần danh tướng. Mười năm tai họa, các nhân vật trên vũ đài chính trị lớp này đến lớp khác như chạy tiếp sức trên một vòng cung lớn nhằm chuyển chiếc gậy “đại vương” đến tay Giang Thanh, để Giang kịp thời kế vị lúc Mao nhắm mắt xuôi tay. Âm mưu gia đình trị của Mao bị phơi trần đã làm nát vụn những phỏng đoán của các nhà trí thức lương thiện về động cơ “cao thượng” của cuộc Đại cách mạng văn hóa do Mao phát động. Nếu không có sai lầm của ba năm Đại tiến vọt, chưa chắc Mao phải dùng đến hạ sách này.

Mao truyền ngôi cho Giang Thanh có phần bất đắc dĩ. Mao không tin vào ngàn đời vạn thế, mà tính toán chỉ cần hai thế hệ (Giang Thanh và Mao Viễn Tân) là đủ thời gian hoàn toàn viết lại lịch sử”, chối phắt trách nhiệm làm 37,55 triệu người chết đói - lịch sử xưa nay đều do kẻ thắng viết nên”

Giao Hưởng

ĐỒI THÔNG HAI MỘ

Sưu tầm quí hiếm
Truyện thơ ĐỒI THÔNG HAI MỘ 
 Chế Quang Tuyến



Chương 1 :  HUYẾT THƯ NHÒA LỆ 

Video : Đồi Thông Hai Mộ - Phi Nhung 

Anh ĐINH LĂNG giờ đây đâu nhỉ?..
Anh của em yêu quý nhất đời
Anh đi mù mịt xa xôi
Phượng hoàng tung cánh giữa trời mải bay
Nỗi niềm em với anh hay chăng nhỉ ?..
Vẫn chờ anh vắng vẻ phòng không
Xa trông mây nước mịt mùng
Lệ sầu thấm ố chăn hồng đêm đông
Trí ngang dọc non sông nghĩa vụ
Nợ cao đầy vũ trụ tang bồng
Tuy chưa pháo nổ rượu nồng
Tuy chưa chăn gối vợ chồng như ai…
Nhưng một buổi sớm mai em nhớ
Một sớm thu mưa gió âm thầm
Đồi thông gắn bó sắt cầm
Đồi thông tiễn biệt lệ đầm áo xanh

Ngồi bên anh em với anh kết nguyện
Nghĩa trăm năm giữ vẹn lời thề
Chờ anh cho đến ngày về
Anh chờ em đợi không hề đổi thay
Mười bảy xuân ,dù hay, dù dở…
Trông vào anh muôn thuở cậy nhờ
Xa anh em chẳng còn ngờ
Xa anh em chẳng hững hờ đơn sai
Anh bốn bề tương lai hứa hẹn
Em một thân nguyện vẹn hồn trinh
Suối trong đồi rộng chứng minh
Em nguyền chỉ có một anh là chồng
Một là có hai không là chết !..
Chết còn hơn chịu ép duyên tình
Tình duyên đâu phải uy quyền
Tình duyên đâu phải bạc tiền bán mua…
Kìa tình sử một vua thoái vị !..
Bỏ ngai vàng vì bị ép duyên
Bỏ ngai vàng giữ lời nguyền
Cùng người thôn nữ vui niềm thôn trang
Công sinh dưỡng coi ngang trời bể
Đạo làm con cần để trên đầu…
Kể chi khanh tướng công hầu
Kể chi bần bách sang giầu thường dân
Lời giáo huấn tu thân sử thế
Điều thiệt hơn lý lẽ ở đời
Đạo con đâu dám sai lời
Bất nhân bất hiếu có trời nào thương
Đã theo đòi văn chương đèn sách
Em đã hay nhân cách cương thường
Tam tòng, tứ đức, phải tường
Công ,dung ,ngôn, hạnh mọi đường vẹn phân
Khốn nỗi việc hôn nhân quan trọng
Cả một đời hy vọng chứa chan
Nỡ nào ép uổng tơ loan
Nỡ nào thắt buộc hồn oan cho đành


Mới lọt lòng đã thành phu phụ
Tuổi sơ sinh tử vụ biết gì
Lớn lên tuân lệnh vu quy
Quyền cha quyền mẹ con đi lấy chồng
Ôi !.. lá thắm chỉ hồng đâu thế
Một lời em không thể kêu xin
Người mà em quý em tin
Mối manh đủ lễ bao phen chẳng thành
Người ta từ dáng hình hạnh kiểm
Không điểm nào là điểm em ưa…
Lại là phải kính phải thờ
Kết duyên chồng vợ thảm chưa hở trời
Trước em đã bao người duyên ấy
Đã bao duyên trông thấy mà thương
Nhịp cầu tan vỡ đoạn trường
Trống xuôi, kèn ngược mọi đường dở dang

ĐINH LĂNG anh , ĐINH LĂNG đi mãi
Chín thu về bao nỗi đầy vơi
Ngoài song vẫn lệ NGÂU rơi
Trong rèm vẫn lệ một người chờ anh
Đã ba lần vấn danh nài ép
Đã ba lần liều chết quên sinh.
Để hồn bay bổng theo anh
Để tim khỏi rạn máu tình rẽ ngang
Để nhà thấy hoa tang đầy cửa
Để tiệc hoa tan vỡ tiệc hoa
Để bướm gần khỏi vào ra…
Hoa này riêng của bướm xa chưa về
Anh Đinh Lăng say mê đâu đó
Lời thu xưa còn nhớ hay quên ?..
Hay anh say thú thiên nhiên
Say mê non nước lạc miền thiên thai
Cùng tiên nữ thơ ngây xuân mộng
Khúc nghê thường rung động ca vang
Hay anh say đắm bạc vàng
Non vàng bể bạc sẵn sàng đế vương
Say bể bạc uyên ương ríu rít
Đắm non vàng khăng khít tơ duyên
Hay anh mê bả uy quyền
Thuận buồm đài các xuôi thuyền phong lưu
Bên người ngọc đủ mưu thần thế
Nhờ duyên may đủ kế cầu vinh
Mải vui quên trí bình sinh
Quên nhà quên nước cốt mình ấm no
Hư vinh đó càng lo càng nhục
Vinh làm chi nát mục thân danh
Bao lời hải thệ sơn minh
Bao lời húa hẹn tử sinh quên rồi
Bao mộng đẹp của đồi thông cũ
Đã vì anh tan vỡ chẳng thành…
Than ôi !.. anh nỡ vô tình
Vui chung anh hưởng , hận mình em mang
Người ta để tang , tang có hạn
Còn em đeo hận , hận không bờ
Uyên chia , nhạn lẻ bơ vơ
Thân em chiếc bóng đợi chờ quãng không

Nếu anh cùng non sông còn sống
Máu hiên ngang dòng giống phi thường
Tình xưa anh đoái anh thương
Phương trời dừng gót cố hương tìm về
Tìm đồi thông xưa kia nguyện ước
Tìm gốc thông ngày trước hẹn hò
Tìm người chung một chuyến đò
Sông sâu bể cả dặn dò có nhau
Tìm người biết vàng thau phân biệt
Biết tôn thờ hào huyệt anh hùng
Tìm người tín nghĩa thủy chung
Gan vàng dạ sắt nấu nung không sờn
Tìm người vì duyên hờn phận tủi
Kiếp hoa rơi ngắn ngủi đành cam
Hỡi !.. anh tráng sỹ áo lam…
Anh đi , đi mãi mải ham những gì ?..
Anh ra đi em vì thủ tín
Chờ tin về , chờ chín thu trường
Ngày thường nuốt lệ là thường
Đợi chờ nào quản dặm đường xa sôi
Nghe oanh hót lứa đôi khăng khít
Nhìn bướm bay quấn quýt yêu thương
Lòng càng sôi nổi vấn vương
Ngày nào đất độ trời thương anh về …
Ôi !.. mộng đẹp gối kề chăn ấm
Sao lại riêng ngăn cấm duyên ta
Thế rồi sau chín thu qua
Vẫn không yên sống để mà nhớ thương
Thế rồi luôn tai ương liên tiếp
Cho đến cùng tận kiếp hoa rơi
Thế là đành , thế là thôi
Người về chưa thấy hoa trôi đã tàn
Đinh Lăng anh muôn vàn thê thảm !..
Về đi anh can đảm quay về…
Về tìm chốn cũ xưa kia
Viếng mồ người cũ gọi chia chút tình
Đồi thông trước một mình một mộ
Gốc thông xưa sương lộ điêu linh
Nằm ôm vẹn một hồn trinh
Nằm ôm một khối hận tình ngàn thu
Trước mồ bạc ô hô lên tiếng
Tiếng Đinh Lăng về viếng hồn oan
Để oan hồn đỡ oán than
Để khối tình hận , tiêu tan não nùng…
Trước mồ bạc anh không dấu giếm
Chín thu ròng vắng tiếng vì đâu ?..
Chân tơ kẽ tóc tình đầu
Nỗi niềm kể hết cho nhau hả lòng
Rồi anh lại ngựa lồng đường cũ
Bụi mù sương tung vó mịt mù
Đồi thông gió thổi vi vu
Hồn em theo gió âm u lạnh lùng
Nếu anh phải anh hùng nam tử
Trót lỗi lầm bỏ dở bình sinh
Trót nhầm lấy nhục làm vinh
Mồ em làm đích để anh cải hồi

Anh nhớ lại những lời thu trước
Hai ta thề vì nước quên mình
Em về nặng gánh nợ tình
Anh đi hồ hải tung hoành hiên ngang
Anh đi luyện trí gan bền bỉ
Em về chờ tri kỷ thành danh
Ngày xanh mòn mỏi tuổi xanh
Bóng anh mơ bóng mộng quanh bên mình
Sầu thương hòa lệ tình chan chứa
Lệ đầy vơi ngóng gió chờ mây
Sao anh biền biệt nào hay
Anh còn hay đã quá say thác rồi

Nếu thác vì giống nòi sở ước
Vì giang sơn tổ quốc vinh quang
Thì em thác chẳng hờn oan
Tuyền đài với cả hân hoan em chờ
Nếu trái lại lời xưa anh bỏ
Bỏ lời xưa coi nhỏ tình xưa
Thì ôi thôi !.. sống bằng thừa
Nước non trốn nợ , tình lừa dối nhau…
Thác nhường ấy trước sau xá kể
Sống như kia sống để làm chi
Túi cơm giá áo khác gì
Sống loài vô giác sống chi uổng đời
Cùng cây cỏ để rồi mục nát
Cùng thời gian tan tác tuổi xuân
Cùng phường vong quốc an thân
Cùng phường vô đạo bất nhân bội tình
Đinh Lăng anh dáng hình bốn bể
Thấu lời em , em kể , em than…
Lời em gửi gió mây ngàn
Gửi anh gửi cả muôn vàn sầu thương

Trên đây mối tơ vương vò rối…
Gánh chung tình tắc lối nghẽn đường
Vườn xuân giông tố phũ phàng
Hoa xuân đương độ cánh tàn nhụy rơi…
Trên đây thuyền tình bơi ngược sóng
Giữa bể tình trông ngóng bến xưa
Bến tình xa lắc xa lơ
Bể tình thuyền đắm bến chưa gặp thuyền
Trên đây gương thề nguyền nguyện ước
Giữ lời thề sau trước không pha
Thân dù đá nát vàng phai…
Lòng son dạ sắt không thay đổi lòng
Trên đây huyết thư Dung để lại
Nhờ đưa Lăng Dung đợi lỡ rồi
Đêm tân hôn dung biệt đời
Liều thân tử tiết giữ lời nguyền xưa
Vì thu trước ngày mưa ảm đạm !..
Dung xa Lăng xa bạn tâm đồng
Một lời LĂNG đã là chồng  
Chồng xa là cả hận lòng chia ly

Nhưng nàng muốn chàng đi vì nước
Chí riêng chàng sở ước từ lâu
Giang sơn tổ quốc làm đầu
Nhà tan nước mất còn đâu thân mình
Tình nhi nữ hận tình lưu luyến
Cảnh chia ly lệ ứa sầu vương
Chàng đi trí cả bốn phương
Nàng về ôm mối tang thương đợi chờ
Tháng ngày qua tơ tằm khung cửi
Tháng ngày qua vọng gửi người xa
Người xa người đợi ở ta
Xa người xa cảnh người xa ta thờ…
Chín thu rồi sống chờ đau khổ !..
Ba lần rồi ngăn trở ép duyên
Lần nào nàng cũng không quên
Nỗi riêng cầu khẩn lượng trên thấu lời
Nhưng cổ tục của người chuyên chế
Không cho nàng tự ý yêu Lăng
Ép duyên gán phận khăng khăng
Quyền trên định liệu nên chăng tự quyền
Lần cuối Dung quá phiền quá tủi
Sức người tàn bọt nổi mây tan
Ích gì ngậm thở ngồi than !..
Lượng trên hẹp lượng kêu van cũng thừa .
Phương kế gì mưu cơ nào nữa
Ngoài chết ra khó giữ toàn danh
Thôi thì sống nhục chết vinh
Chết đi cho trọn nghĩa sinh trọn lời

Ngày cưới Dung rợp trời náo nhiệt…
Nhạc hòa ca yến tiệc hòa ca
Dung tươi Dung đẹp như hoa
Dung về nhà mới thướt tha diễm kiều
Phòng tân hôn mỹ miều lộng lẫy
Nhớ đến Lăng đầy dẫy sầu thương
Nhớ người ngàn dặm trùng dương
Nhớ người xây dựng uyên ương tan rồi
Nhớ người ruột rối bời trăm mối
Đường cùng rồi sử đối ra sao ?..
Thấu chăng bể rộng trời cao
Trọn niềm thủ tín đợi bao lâu rồi
Thôi đành thôi tái hồi kiếp khác
Kiếp này xin hồn thác thanh tao
Núi Hoàng , rừng Cấm , sông Thao *
Chứng minh phận bạc má đào tuổi thơ
( *Ba địa danh thuộc tỉnh HÒA BÌNH)


Trời vừa tối gặp cơ hội tốt
Sẵn tiên đan * nàng nuốt một liều
Giờ sau phách lạc hồn siêu…
Tiệc hoa tan vỡ người kêu gọi rầm .
Cây cỏ cũng âm thầm ủ rũ
Sầu thay người tình cũ thu xưa
Túi Dung đầy túi huyết thư
Lệ nhòa dòng máu hồn mơ não đời
Với song thân một lời tha thiết !..
Cho chôn nàng trọn tiết trọn trinh
Đồi thông gò giữa cảnh sinh
Vọng tàn kỳ vọng an ninh cuối cùng .
Đồi cao với bóng tùng che trở
Hương hồn nàng muôn thuở anh linh
Thôi đành cam bội công sinh
Để duyên khỏi ép để tình khỏi oan
Với chồng nàng chàng Lăng nàng nguyện
Với chồng nàng , nàng hẹn tử sinh
Huyết thư huyết , lệ thanh minh
Đoạn trường khổ gánh điêu linh cõi trần…
       (*  Tiên đan là một loại thuốc độc)

Nếu Lăng sống có lần trở lại
Nếu thôi về đành đợi kiếp sau…
Kiếp này đã dở dang nhau
Kiếp sau ước vọng trân châu thỏa tình
Kiếp này đã gương bình tan vỡ…
Kiếp sau cầu không lỡ phượng loan
Kiếp này nghiệp chướng tiền oan
Kiếp sau hưởng phúc đồng hoan vui vầy

Tiếng kêu thương chim đầy tuyệt vọng
Xé không gian réo động u sầu…
Lệ người đắm ngọc chìm sâu
Cạn dòng cạn hết còn đâu khóc đời
Đã đến lúc xa trời gần đất !..
Đời chỉ còn kẻ khuất người xa
Tay ôm mắt nhắm cho qua
Hồn thiêng sống mãi để mà chờ mong…
Hồn thiêng sống mãi trong trắng mãi
Trên đồi thông trên bãi trường đời
Trên cao trên cánh chim trời
Tháng ngày theo dõi bóng người xa xăm !..

Chôn Dung chưa được năm tháng chẵn
Trên đường về Lăng vẫn đinh ninh
Gặp Dung thỏa nguyện ba sinh
Gặp Dung hải thệ sơn minh phỉ nguyền
Nhưng nhân định thắng thiên ít lắm
Lăng quay về tình đắm duyên tan…
Huyết thư huyết lệ hòa chan
Bên mồ Lăng kể nỗi oan nát lòng…

CHẾ QUANG TUYỂN

Đọc thêm :Chương 2 & 3
 ĐỒI THÔNG HAI MỘ

Sunday, July 20, 2014

Hội An

Năm 1954, tại Hội An


Tâm hồn tôi ngay từ khi còn bé đã được xây dựng với rất nhiều hình ảnh của đất Bắc, đặc biệt là Hà Nội, qua các sách tôi đọc. Sách Hồng, sách Truyền Bá Quốc Ngữ từ lúc vừa biết đọc, lớn lên một chút, tôi tiếp tục đọc sách Tự Lực Văn Đoàn và các tác giả khác: Nguyễn Tuân, Nguyễn Công Hoan, Lê Văn Trương, Vũ Trọng Phụng, Tô Hoài v.v... và tiếp nhận thông tin đủ mọi mặt của đời sống đất Bắc qua văn chương. Thuở ấy sách xuất bản từ Sài Gòn mà tôi có được thì tuyệt đối chỉ là truyện Tàu của nhà Yễm Yễm Thư Trang: Tam Quốc, Tây Du, Thủy Hử... rất hấp dẫn và có ích về kiến thức lịch sử, văn hóa Tàu, nhưng tất cả những gì về văn học Việt Nam thì đều đến từ Hà Nội. Nhưng cho đến cuộc di cư của đồng bào miền Bắc năm 1954 thì tôi mới thực sự bắt đầu tiếp xúc với người Bắc.


Mùa hè năm 1954 tôi đã là một thiếu niên, vừa đủ hiểu biết để theo dõi các chuyển biến quân sự chính trị của đất nước, từ trận Điện Biên Phủ đầu tháng Năm cho đến khi ký kết hiệp định  Genève vào tháng Bảy, và tiếp theo đó là cuộc di cư của đồng bào ngoài Bắc vào Nam. Bây giờ đã lớn tuổi, nhớ lại quãng thời gian ấy, tôi thấy cậu thiếu niên là tôi lúc đó hầu như đã trưởng thành hẳn trong vòng có mấy tháng với những biến cố rung động cả đất nước và con người Việt Nam.

Cuộc di cư của đồng bào miền Bắc đối với tôi bắt đầu ngay từ sau khi hiệp định đình chiến và chia đôi đất nước được ký kết tại Thụy Sĩ. Tôi rúng động khi biết sẽ mất Hà Nội, và những ngày ấy tôi thường theo dõi đài phát thanh Hà Nội --thời đó gọi là đài Hirondelle (chim Én)-- mà trước kia tôi chưa bao giờ nghe. Tôi còn nhớ buổi phát thanh cuối cùng của Tổng hội Sinh viên Hà Nội trước khi từ giã đất Bắc để vào Nam, nghe xong lòng tôi buồn như muốn khóc. Không biết trong buổi phát thanh đó có mặt các anh Trần Thanh Hiệp, Doãn Quốc Sỹ, Mai Thảo... hay không, sau này quen biết với các anh tôi chưa bao giờ hỏi điều ấy. Nhưng buổi phát thanh ấy đã hằn trên tâm hồn mới lớn của tôi một ấn tượng lớn lao về lịch sử, về sự chia cắt và nỗi nhớ thương một Hà Nội mà từ nay trở đi sẽ không còn là Hà Nội như tôi đã biết từ trước nữa.
Bài hát Hướng Về Hà Nội của Hoàng Dương phổ biến trong mùa hè ấy đối với tôi mãi mãi là một nhạc phẩm lớn ghi lại nỗi niềm, như tôi vừa viết, nhớ thương một Hà Nội từ nay sẽ không còn như xưa nữa. Đó không phải chỉ là lời giã biệt của một chuyến đi, mà là giã biệt vĩnh viễn những thành tựu văn hóa ngàn năm cô đúc trong một đô thị đầy ắp lịch sử và các giá trị nhân văn của một dân tộc. Suốt bài hát những tiếng kêu khắc khoải Hà Nội ơi, Hà Nội ơi lặp đi lặp lại trước mỗi tiểu khúc mô tả kỷ niệm, nếp sống, vẻ đẹp của người, của cảnh... như là một cố gắng dựng lại bao cái tinh hoa của Hà Nội trước khi vĩnh viễn dứt lìa. Quả thế, kể từ đó, tất cả vẻ đẹp cổ điển của Hà Nội đã hoàn toàn bị xóa bỏ không còn bao giờ hồi phục được nữa.

Thế rồi vào một ngày cuối hè đầu thu năm ấy, thành phố Hội An nhỏ bé và cổ kính của chúng tôi bắt đầu đón tiếp người Bắc di cư. Mấy cái lều thật lớn được dựng lên trong khu vực sân quần vợt của thành phố, và một hôm đầy ắp người ở. Nhưng đó chỉ là nơi tạm trú, không lâu các gia đình ấy tản đi thế nào tôi không rõ, chỉ thấy lều trại được giở đi, và thành phố có thêm một số gia đình người Bắc cư ngụ đây đó, công sở có nhiều người Bắc làm việc hơn, niên khóa mới 1954-55 trường Trần Quý Cáp chúng tôi có thêm một số bạn học mới nói tiếng Bắc, trong đó có những “cô em Bắc Kỳ nho nhỏ” rất duyên dáng. Và từ thời điểm này một số giáo sư mới di cư bắt đầu về dạy tại trường, trong đó có thầy Dương Đức Nhự mà mãi cho đến bây giờ tôi vẫn giữ những liên hệ đầy tình cảm. Và, một tiệm phở được khai trương một cách tạm bợ ở một con đường gần chợ. Tiệm phở này tôi cho là một nét văn hóa ẩm thực Bắc Kỳ đầu tiên xuất hiện một cách rõ rệt tại cái thành phố rất kiên cố về mặt truyền thống của chúng tôi. Trên những chuyến xe đò Hội An - Đà Nẵng nay thường có mặt một số hành khách mới, đó là một số các bà di cư có lẽ đi buôn bán, khi bước lên xe thường nói “Tôi đi Tu Đoan” mãi sau tôi mới hiểu các bà muốn nói Tourane, tức Đà Nẵng gọi theo lối Pháp.
Làn sóng di cư đến với Hội An tương đối mỏng và nhẹ nhàng, tất cả bà con di cư hòa nhập vào nếp sống Hội An một cách êm đềm, không gây một xáo trộn nào trên vẻ trầm lặng của thành phố cổ này. Nhưng ai cũng biết tầm cỡ của cuộc di cư trên cả miền Nam thì rất lớn lao, đã đem lại nhiều thay đổi tích cực trên nhiều lãnh vực trong phần lãnh thổ phía nam vĩ tuyến 17. Điều ấy dễ hiểu, vì bỗng nhiên miền Nam có thêm gần một triệu công dân, trong đó có rất nhiều thành phần ưu tú của đất nước.

Từ đó đến nay 60 năm đã qua. Chẵn một chu kỳ 12 con giáp. Trong đời một người khó có chuyện gặp lại kỷ niệm lần thứ hai sáu mươi năm biến cố này.

Phạm Xuân Ðài
@diendantheky

Saturday, July 19, 2014

HS-TS

Việt Nam nên sớm khởi kiện Trung Quốc
 ra trước Tòa án Quốc tế

Đến nay thì mọi việc ở Biển Đông đã vượt qua giới hạn của quy luật Quan hệ Quốc tế, vì Trung Quốc ngày càng để lộ rõ bộ mặt thật hơn nữa. Mọi người Việt Nam dù là ở trong nước hay ngoài nước đều căm giận và đau buồn cho số phận không may của một nước nhỏ như Việt Nam phải nằm bên cạnh một nước lớn mạnh, hung hăng và muốn thực hiện mưu đồ bá quyền “chủ nghĩa Đại Hán” như Trung Quốc.

Người Việt Nam lưu vong nơi hải ngoại dù ở Mỹ, Úc, Nhật, Pháp, Đức, Hà Lan, v.v. thì cũng vẫn là người Việt Nam. Trước nạn đất nước Việt Nam bị Trung Quốc xâm lấn, người Việt Nam cần nên có trách nhiệm gìn giữ lấy. Dân tộc Việt Nam trường tồn, và mong muốn mãi mãi cũng phải là dân tộc Việt Nam. Do đó xin đề nghị cấp thiết hai điểm sau đây cùng với Chính phủ Việt Nam:

 1. Việt Nam cần kiên quyết bảo vệ chủ quyền, nhất quyết không cho Trung Quốc đặt giàn khoan của họ trên vùng thuộc chủ quyền của ta. Việt Nam cần mạnh dạn khởi kiện Trung Quốc ra trước Tòa án Quốc tế.

Hoa Kỳ cũng tán thành và ủng hộ khi Việt Nam sử dụng hành động pháp lý kiện Trung Quốc ra trước Tòa án Quốc tế. Và Liên Minh Âu châu cũng vậy. Bao nhiêu hành động của Trung Quốc đi ngược lại các nguyên tắc của Công pháp Quốc tế điều chỉnh các hành vi của các quốc gia liên quan đến các lãnh thổ đang có tranh chấp, chà đạp lên Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển, Tuyên bố về Quy tắc Ứng xử trên Biển Đông năm 2002 giữa các quốc gia ASEAN và Trung Quốc, và Thỏa thuận về Nguyên tắc Cơ bản Chỉ đạo giải quyết các vấn đề trên biển năm 2011 giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Trung Quốc khăng khăng khẳng định Hoàng Sa là thuộc chủ quyền của Trung Quốc, nên tìm mọi cách không chịu đối thoại với Việt Nam. Trung Quốc phá vỡ mọi quan hệ hữu nghị, gây thương tổn cho đất nước và dân tộc Việt Nam. Trung Quốc khẳng định rõ ràng tham vọng xâm chiếm toàn vùng Biển Đông của Việt Nam. Hiện nay Trung Quốc đã di chuyển bốn giàn khoan dầu về Biển Đông.  

Trước tình hình này gần như toàn dân Việt Nam đều căm giận sự bội ước, tráo trở và vi phạm luật pháp quốc tế của Trung Quốc. Tôi nghĩ sớm hay muộn Việt Nam cũng phải kiện Trung Quốc ra trước Tòa án Quốc tế. Như vậy, tại sao Việt Nam không thể khẩn trương hơn trong việc làm này ?

Việt Nam cần kiên quyết kiện Trung Quốc ra trước Tòa án Quốc tế tại Den Haag (La Haye, The Hague) Hà Lan. Theo tôi, Tòa án Công lý Quốc tế ở Den Haag Hà Lan có nhiều điều kiện thuận lợi hơn hết. Vì Den Haag là thành phố chính trị nổi tiếng của Hà Lan, có thể giúp cho Việt Nam những gì cần thiết, và cũng là nơi tập trung các chuyên gia về Luật Quốc tế, các giáo sư về Công pháp Quốc tế; tại đây cũng có Viện Quan hệ Quốc tế Clingendael Hà Lan.

2. Cần tận dụng các biện pháp ngoại giao và ký kết hiệp định để tăng cường đoàn kết với quốc tế

Muốn thắng được Trung Quốc khi ra trước Tòa án Quốc tế, trước tiên phải có lý luận vững chắc, có hồ sơ đầy đủ, có thế mạnh về ngoại giao, được quốc tế tin tưởng, và được các cường quốc hỗ trợ. Cần gấp rút liên lạc và kết liên cho thật tốt với những tổ chức, những quốc gia, những liên minh có truyền thống đấu tranh gần gủi với Việt Nam.

Nhật Bản và Philippines đã có sẵn Hiệp ước An ninh nên được Mỹ yểm trợ trực tiếp và có thể dễ dàng hơn khi đối phó với Trung Quốc. Do đó Việt Nam cần nhanh chóng hợp tác liên kết chặc chẽ với Nhật Bản và Philippines là những nước có cùng cảnh ngộ như Việt Nam để có sự hậu thuẫn mạnh mẽ của Hoa Kỳ, Úc, Ấn Độ, và các nước khác.

Tại cuộc họp ở Shangri-La ngày 30 và 31-5-2014 Nhật Bản và Mỹ đã lên tiếng cảnh báo và nỗ lực ủng hộ Việt Nam; đây là những tiếng nói có ảnh hưởng rất mạnh. Trong thời gian tới Mỹ và Nhật Bản sẽ mời một số quốc gia tham gia một hiệp ước gồm có các nước Mỹ, Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Philippines, Úc, Ấn Độ, và có thể có cả Việt Nam, v.v. nhằm ngăn ngừa ý đồ của Trung Quốc. Theo tôi, đây là điểm khả dĩ chấp nhận được để đề phòng mối đe dọa của Trung Quốc.

Trung Quốc ở Biển Hoa Đông bị Nhật Bản ngăn chận tại đảo Sensaku. Ở Biển Đông lại bị Philippines chận lại tại đảo Scarborough. Hiện tại Trung Quốc chỉ còn lại con đường duy nhất thoát ra Biển Đông là con đường từ Hoàng Sa đến Trường Sa của Việt Nam. Các nước Nhật Bản và Philippines ngày nay vẫn có thể yên bình là nhờ có Hiệp ước An ninh với Mỹ yểm trợ. Trung Quốc có thể còn e ngại, không hoặc chưa dám đụng vào. Do đó nếu Việt Nam đứng một mình, không theo bên nào, thì đó là đường lối có lợi nhất cho Trung Quốc.

Trong những ngày tới khi cần phổ biến tin tức rộng rãi, Việt Nam nên gửi thư từ, thông tin, thông cáo báo chí cho các báo chí và truyền thông Âu Châu. Vấn đề quốc tế, theo tôi, trong một xã hội dân chủ lãnh vực truyền thông rất quan trọng. Cần nhất là nên cho cộng đồng quốc tế biết rõ, hình dung được mức độ tương quan lực lượng, xã hội, ý thức hệ, v.v. Cần có sự liên lạc thường xuyên mật thiết trước với giới báo chí, truyền thông ở hải ngoại để tranh thủ những điều kiện thuận lợi hơn nữa.

Hiện nay các nước lớn thường hành xử bất chấp luật pháp trong các cuộc tranh chấp quốc tế.
Việc Mỹ đã không ký Công ước Luật biển, tạo ra tiền lệ cho Trung Quốc trong việc xem thường luật pháp quốc tế. Trung Quốc đã bác bỏ vụ kiện của Philippines và tuyên bố sẽ không công nhận bất kỳ phán quyết nào bất lợi cho họ.

Trung Quốc vẫn nói rằng họ không chấp nhận vai trò trọng tài quốc tế “như nêu trong khoản 2 chương 15 của UNCLOS trong các tranh chấp có liên quan đến ranh giới lãnh hải và các hoạt động quân sự.”

Vào lúc đó Trung Quốc đã khẳng định chủ quyền đối với Huangyan Islands (đảo Hoàng Nham) ở Biển Đông, điều này có nghĩa là ngay cả khi Philippines đưa vụ tranh chấp này ra Tòa án Quốc tế, Trung Quốc cũng không có nghĩa vụ phải ra tòa.

Liên quan đến việc này, có hai điểm cần được Tòa án Quốc tế và Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc giải thích:

1. Nếu một nước lớn không chịu ra tòa và không chịu chấp hành bất kỳ phán quyết nào của Tòa án Quốc tế, thì Tòa án Quốc tế và Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc sẽ giải quyết ra sao ?

Nếu Tòa án Quốc tế và Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc không có giải pháp nào cho một trường hợp như thế, thì có lẽ nhiều trường hợp tương tự hay nghiêm trọng hơn sẽ xảy ra. Điều này cho thấy là một nước lớn có thể thắng thế trong các cuộc tranh chấp giữa hai hoặc nhiều nước, và cũng sẽ thắng trên bình diện luật pháp quốc tế.

2. Tòa án Quốc tế có thể giải thích như thế nào về Công hàm của Thủ tướng Bắc Việt Nam Phạm Văn Đồng ngày 14-9-1958 gửi cho Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai?

Trung Quốc viện dẫn công thư của Thủ tướng Bắc Việt Nam Phạm Văn Đồng gửi Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai ngày 14-9-1958 để xác lập chủ quyền đối với Hoàng Sa. Có thể đây chỉ là kế dương Đông kích Tây của Trung Quốc, mà thực tâm của vấn đề còn nằm ở chỗ khác. Một ngày gần đây chắc chắn là họ sẽ đưa ra yêu sách mà trọng tâm là về chính trị, kinh tế. Tức là Trung Quốc muốn làm chủ khu vực Biển Đông, tài nguyên, dầu khí, khoáng sản, thủy sản, giao thông hàng hải. Nhưng chính yếu nhất của Trung Quốc là về băng cháy (thủy hóa vật, hydrateren, hydrate, hydration), nguồn tài nguyên của tương lai nằm ở độ sâu dưới 3000m.

Như Gs Tạ Văn Tài, Gs Ngô Vĩnh Long, và nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định: “công thư này hoàn toàn không có giá trị về mặt pháp lý đối với Hoàng Sa và Trường Sa”; “Phần giải thích của Quốc hội nói rõ công thư chỉ ủng hộ về cái gọi là 12 hải lý lãnh hải mà ông Chu Ân Lai tuyên bố cho Trung Quốc. Chừng đó cũng đủ để phá luận cứ của Trung Quốc về Hoàng Sa”.

Được biết hiện nay Việt Nam gần như có đầy đủ hồ sơ, tài liệu lịch sử về chủ quyền quốc gia Việt Nam. Việc khởi kiện Trung Quốc ra trước Tòa án Quốc tế sẽ giúp cho Việt Nam chiếm được nhiều lợi thế. Một phán quyết quốc tế có lợi sẽ trở thành vũ khí sắc bén nhất trên con đường đấu tranh vì sự toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải của Việt Nam.

Ngô Văn Tuấn