Chương Trình Tao Đàn
Friday, May 24, 2013
Cựu chiến binh
Cựu chiến binh Mỹ
tại Việt Nam hội ngộ sau 40 năm
YORBA LINDA, California (NV) – Con đường Yorba Linda được trang trí với cờ bay phất phới nhân dịp gặp gỡ kỷ niệm 40 năm của các cựu chiến binh Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam tổ chức tại thư viện mang tên cựu Tổng Thống Richard Nixon vào lúc 1 giờ trưa Thứ Năm.(Mọi ngườivẫy tay reo hò chào đón đoàn xe tới. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)
(
Dân chúng từng nhóm tụ họp hai bên đường, cầm cờ để đón chào đoàn xe bus, gồm 8 chiếc chở hàng trăm cựu chiến binh từ khắp nơi về hội ngộ.
Đoàn xe bus rời xa lộ 57, tiến vào sân trước của thư viện được mở đường bằng hàng chục chiếc xe mô tô mang cờ Hoa Kỳ, cờ cựu tù binh chiến tranh.
Trước lối vào thư viện, thảm đỏ trải dài, cờ xí và các tình nguyện viên mặc áo đỏ sẵn sàng để ghi danh những cựu chiến binh Hoa Kỳ không dùng xe bus.
Bên phải là ban nhạc của trung học Villa Park chơi liên tục các bài quân nhạc.
Đoàn xe bus rời xa lộ 57, tiến vào sân trước của thư viện được mở đường bằng hàng chục chiếc xe mô tô mang cờ Hoa Kỳ, cờ cựu tù binh chiến tranh.
Trước lối vào thư viện, thảm đỏ trải dài, cờ xí và các tình nguyện viên mặc áo đỏ sẵn sàng để ghi danh những cựu chiến binh Hoa Kỳ không dùng xe bus.
Bên phải là ban nhạc của trung học Villa Park chơi liên tục các bài quân nhạc.
Các tràng pháo tay bắt đầu vang lên khi các xe mô tô và xe bus đi ngang qua. Mọi người hớn hở, tay cầm lá cờ Hoa Kỳ nhỏ do ban tổ chức phát.(Ông Larry Chesley, phi công, cựu tù binh chiến tranh và vợ là bà Judy. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)
“Richard Nixon Foundation chân thành cám ơn và chào mừng các cựu chiến binh, sở cảnh sát, sở cứu hỏa và mọi người hiện diện. Nếu Tổng Thống Nixon còn sống chắc ông cũng sẽ ca ngợi lòng yêu nước của từng quý vị,” ông Sandy Quinn, chủ tịch của Richard Nixon Foundation, tuyên bố trước hàng trăm cựu chiến binh Hoa Kỳ và gia đình.
Đặc biệt, cùng đứng chào đón các cựu chiến binh còn có ông Ed Nixon, bào đệ của Tổng Thống Richard Nixon; ông Christopher Cox Nixon, cháu nội của Tổng Thống Nixon.(Từ trái) Ông Christopher Cox Nixon, Ed Nixon và Chủ Tịch Sandy Quinn. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)
“Từ bé, tôi đã nghe gia đình nói đến sự anh hùng, sự can đảm và sự dũng cảm thể hiện nơi các cựu tù binh chiến tranh. Chúng tôi luôn đo lường sự anh hùng, sự can đảm và sự dũng cảm bằng những gì quý vị đã làm ở Hà Nội thời đó,” ông Christopher Cox Nixon nói.
Một cựu tù binh trong chiếc áo T-Shirt màu đen với huy hiệu POW từ tiểu bang Idaho đến tham dự cùng vợ, ông Larry Chesley, 74 tuổi, chia sẻ: “Tôi là trung úy phi công, khi ấy 24 tuổi. Tôi còn nhớ máy bay của tôi bị trúng đạn, bốc cháy và rơi vào Tháng Tư, 1966. Tôi bị gãy 3 chiếc xương phía sau lưng.”
“Tôi bị bắt ngay khi rớt xuống đất. Tôi ở tù 2494 ngày trong nhà tù 'Hanoi Hilton'. Tôi sụt mất 65 pounds và cân nặng dưới 100 pounds khi được thả. Tôi bị bệnh 'beri beri' ảnh hưởng đến thần kinh nhưng không có thuốc men,” người cựu tù kể.
“Trong 4, 5 tháng dài, tôi sống biệt giam một mình trong chu vi 3x6 ft. Diện tích chỗ ở nhỏ nhất trong đời tôi,” ông tỏ vẻ xúc động, ôm vai vợ.
Tuy nhiên, ông bày tỏ: “Tôi không hề ghét người lính của bất cứ bên nào, Bắc hay Nam Việt Nam vì họ chỉ chiến đấu cho quốc gia của họ. Trong tù chúng tôi viết chữ tắt 'GBU' để nhận diện nhau là người Mỹ, có nghĩa là 'God Bless You', xin' Thượng Đế Ban Phước Cho Bạn'Người lính năm xưa luôn sống trong kỷ niệm tự hào và hạnh phúc khi đã cống hiến cho tổ quốc.( Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)
“Trong 4, 5 tháng dài, tôi sống biệt giam một mình trong chu vi 3x6 ft. Diện tích chỗ ở nhỏ nhất trong đời tôi,” ông tỏ vẻ xúc động, ôm vai vợ.
“Dù sao thì tôi cũng rất may mắn nên tôi có tên Lucky Chesley,” ông nói.
Ngoài các cựu chiến binh, còn có gia đình tham dự.
Cô bé Sydney Borrego, 10 tuổi, học lớp 4 trường Fairmont Elementary, Yorba Linda, cầm bảng “Welcome Home Captain USN Dale Raebel”, e dè nói: “Em muốn gặp người cựu chiến binh để có dịp chào họ. Hôm nay bà ngoại cho em trốn học để đến đây tham dự.”
Các cựu chiến binh được chia làm nhiều nhóm và được những tình nguyện viên của Thư Viện hướng dẫn đi thăm và giải thích về cuộc đời và sự nghiệp của cựu Tổng Thống Nixon.
Richard Nixon Foundation là một tổ chức phi lợi nhuận nằm trong khuôn viên của Thư viện và Viện Bảo Tàng Tổng Thống Richard Nixon, tọa lạc tại 18001 Yorba Linda Blvd., Yorba Linda.
Viện Bảo Tàng mở cửa hàng ngày 10AM-5PM và Chủ Nhật 11AM-5PM. Để biết thêm thông tin về các sự kiện hoặc triển lãm, vui lòng gọi (714) 993-5075 hoặc vào trang nhà tại http://www.nixonfoundation.org/.
Một cựu chiến binh khác, tuy không bị tù nhưng ông vẫn không sao quên được thời gian tham chiến ở Việt Nam.
“Tôi còn nhớ hôm ấy là ngày sinh nhật 21 tuổi của tôi. Tôi thoát chết diệu kỳ. Đạn của địch chỉ cách tôi có hơn một gang tay thôi. Lúc ấy tôi đang ngồi bê khẩu đại liên 50. Tôi bị bắn sẻ,” ông Santo Pagano, Jr, 66 tuổi, cư dân Yorba Linda, nói.
Một cựu chiến binh khác dù chưa bị bắt làm tù binh nhưng phục vụ hai năm 1966-1968 ở Chu Lai và Đà Nẵng, ông Michael Lynn, 69 tuổi ở Yorba Linda, kể: “Tôi trải qua một thời gian rất có ý nghĩa, nhất là ở vùng quê Việt Nam. Người Việt rất hiền lành. Tôi có lần được gặp ông Nguyễn Cao Kỳ ở Westminster.”Những người Mẹ, vợ và người thân đón mừng các cựu chiến binh trong ngày hội ngộ.( Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)
“Tôi còn nhớ hôm ấy là ngày sinh nhật 21 tuổi của tôi. Tôi thoát chết diệu kỳ. Đạn của địch chỉ cách tôi có hơn một gang tay thôi. Lúc ấy tôi đang ngồi bê khẩu đại liên 50. Tôi bị bắn sẻ,” ông Santo Pagano, Jr, 66 tuổi, cư dân Yorba Linda, nói.
Ngoài các cựu chiến binh, còn có gia đình tham dự.
Cô bé Sydney Borrego, 10 tuổi, học lớp 4 trường Fairmont Elementary, Yorba Linda, cầm bảng “Welcome Home Captain USN Dale Raebel”, e dè nói: “Em muốn gặp người cựu chiến binh để có dịp chào họ. Hôm nay bà ngoại cho em trốn học để đến đây tham dự.”
Các cựu chiến binh được chia làm nhiều nhóm và được những tình nguyện viên của Thư Viện hướng dẫn đi thăm và giải thích về cuộc đời và sự nghiệp của cựu Tổng Thống Nixon.
Richard Nixon Foundation là một tổ chức phi lợi nhuận nằm trong khuôn viên của Thư viện và Viện Bảo Tàng Tổng Thống Richard Nixon, tọa lạc tại 18001 Yorba Linda Blvd., Yorba Linda.
Viện Bảo Tàng mở cửa hàng ngày 10AM-5PM và Chủ Nhật 11AM-5PM. Để biết thêm thông tin về các sự kiện hoặc triển lãm, vui lòng gọi (714) 993-5075 hoặc vào trang nhà tại http://www.nixonfoundation.org/.
LinhNguyen
@nguoi-viet.com
Thursday, May 23, 2013
Thơ TRẦN KIÊU BẠC
VỀ PHƯƠNG NAM, DẤU CHÂN KHÔNG LẠ
(Viết nhân 400 năm Chúa Nguyễn Hoàng tạ thế 1613-2013)
Phải đi về Nam, phương Nam thôi
Thấy vạt cỏ xanh phủ chân trời
Hạt giống vươn lên chừng bất tận
Nẩy mầm theo những giọt mưa rơi !
Đi về phương ấy, theo phương ấy
Mỗi chặng đường đi vẹt dấu chân
Khai mở non sông tràn sóng dậy
Không cần ngày tháng, chỉ cần năm
Thức dậy đêm nay, cùng thức dậy
Theo sau Chúa Nguyễn cuối cuộc đời
Lộng lẫy đường đi qua mở cõi
Miệt mài chân tới chẳng quay lui
Mong ước phương Nam trời yên ả
Sẽ gặp nhau, mừng, vượt chông gai
Ngàn cây sẽ mọc, hoa chen nở
Theo niềm hy vọng đã ươm đầy
Ngoái lại nhìn xa nơi xuất phát
Thấp thoáng buồn hiu những nấm mồ
Nhưng cuộc sống nầy vừa đổi khác
Như đã giã từ khúc hoang sơ
Theo chân Chúa Nguyễn đến phương Nam
Nơi trăng chưa khuyết đã đêm rằm
Đêm nào trăng cũng tròn vành vạnh
Đất màu nuôi giấc ngủ thênh thang
Thắp vội nén hương trời bái vọng
Cúi đầu đa tạ đấng Thiên Nhan
Rạch đất mở đường chân không lạ
Thế hệ mai sau mãi vững vàng !
TRẦN KIÊU BẠC
May,14.2013
Wednesday, May 22, 2013
2013 Oklahoma storm
Cô giáo gốc Việt trở thành
người hùng ở Oklahoma
Đang nằm trên giường bệnh với xương ức, xương sống bị nứt và chi chít vết trầy xước, cô Jennifer Doan (30 tuổi) kể với phóng viên CBS News bằng giọng nói đứt quãng: “Tôi bảo các em ấy ngồi xuống, không có ánh sáng lúc ấy và các em rất sợ hãi. Tôi dùng cánh tay che chở cho những học sinh đứng kế bên”.
Theo lời kể trong nước mắt của cô Jennifer, có một học sinh lớp 3 bị chôn vùi ngay bên cạnh cô và ngay khoảnh khắc kinh hoàng đó, cô chỉ biết làm những gì con tim mách bảo. “Tôi bảo em ấy giữ bình tĩnh vì họ (những người cứu hộ) sẽ đến. Nhưng em ấy liên tục nói với tôi em ấy thở không được và không muốn chết” - Jennifer nhớ lại.
Jennifer nói cô thật sự không nhớ cô và bọn trẻ đã ở bên dưới đống đổ nát bao lâu, chỉ nhớ một ai đó đến và đào bới phía trên đầu cô rồi sau đó chìa tay kéo cô lên.
Chị Kelly Tran, một cư dân gốc Việt ở Oklahoma, trả lời Tuổi Trẻ Online qua điện thoại rằng việc cô giáo Jennifer Doan có thể sống sót và vẫn giữ được tinh thần để che chở cho học sinh của mình là một việc thần kỳ.
“Bạn của tôi sống trong khu nhà ngay đối diện trường học của chị Jennifer và cô ấy diễn tả tiếng gầm rú của cơn lốc xoáy là không thể tưởng tượng được. Kể cả nhiều người làm storm chaser (những người truy đuổi lốc xoáy) chuyên nghiệp cũng nói họ chưa bao giờ nhìn thấy một trận lốc xoáy nào kinh hoàng hơn” – Kelly cho biết.
“Đây là một câu chuyện chắc chắn sẽ đọng lại trong lòng cư dân Oklahoma trong thời gian rất dài” – chị khẳng định.
Chị Kelly còn nói chị mới hoàn tất khóa huấn luyện do Hội Chữ thập đỏ Hoa Kỳ tổ chức để có thể chính thức trở thành tình nguyện viên cứu hộ các nạn nhân lốc xoáy tại Oklahoma.
Tuesday, May 21, 2013
THƠ NGUYỄN PHƯƠNG UYÊN
BÀI THƠ YÊU NƯỚC
CỦA NGUYỄN PHƯƠNG UYÊN
Ơi đồng bào Việt Quốc !!!Đất nước không chiến tranh
Cớ chi đau thắt ruột
Sự tự hào ngộ nhận
Một chế độ bi hài sau chiến tranh
Bọn cường quyền gian manh cơ hội
Đào bới bóc lột dân lành
Núp dưới bóng cờ máu, bác đảng
Âm thầm bán từng mãnh đất quê hương
Tổ quốc thân yêu ơi!
Đồng bào thân yêu ơi!
Ôi, ta thương quá đi thôi!
Vết sẹo hằn sâu vào trái tim, trải dài theo năm tháng
Xuyên qua chiến tranh có những đống mồ hùng vĩ
Người phơi thây ngã xuống mắt trừng trừng nhìn nhau
“Hậu thế ơi hãy giữ gìn non sông”
Ôi đất nước giờ tả tơi từng mãnh trao cho giặc!
Sự hy sinh bất công!
Xứ sở linh thiêng có còn không?
Phật khóc, Thánh rơi lệ!
Công lý lưu lạc để đức tin chìm vào đáy biển
Tràn ngập hôn mê
Ơi thanh niên Việt Quốc!
Chúng ta là ai?
Hãy đứng lên trước vận mệnh tổ quốc
Giặc đang tràn tới ngõ
Hãy đứng lên đi
Đứng lên niềm tự hào để sử sách lưu danh
Đứng lên đi cho tự do tỏa sáng
Đứng lên đi giành lại nước của dân lành
Hỡi tất cả những ai là đồng bào Việt Quốc
Hãy chung tay gìn giữ cội nguồn cho con cháu mai sau.
NGUYỄN PHƯƠNG UYÊN
Monday, May 20, 2013
Phạm Thị Hoài
Hồ Chí Minh:
Tôi hạ lệnh cho nhân dân
Trong tập 4, bộ Hồ Chí Minh Toàn tập, có một văn bản ngắn như sau :
Lời kêu gọi đồng bào Bắc Bộ
Hỡi đồng bào Bắc Bộ!
Việc bất hợp tác sáng hôm qua chẳng những không do mệnh lệnh Chính phủ mà trái với chính sách Chính phủ. Việc đó tỏ rằng một số quốc dân chưa hiểu kỷ luật. Biết theo những mệnh lệnh Chính phủ, làm cho thế giới thấy rằng dân tộc ta xứng đáng độc lập, Chính phủ ta có đủ oai quyền. Vậy tôi, Hồ Chí Minh, Chủ tịch Chính phủ Lâm thời, hạ lệnh cho nhân dân Bắc Bộ lập tức đình chỉ việc bất hợp tác, giữ thái độ bình tĩnh giúp Chính phủ giữ gìn trật tự.
Đồng bào yêu mến tôi, nghe lời tôi.
Người đọc không được biết gì về bối cảnh của lời kêu gọi đó, ngoài xuất xứ rằng nó được in trong cuốn Lời Hồ Chủ tịch của Nxb Tiến Hóa, Hà Nội, năm 1946, trang 45. Nhân dân Bắc Bộ đã biểu thị sự bất hợp tác với ai và như thế nào [1]? “Sáng hôm qua” là sáng ngày nào trong những ngày đầy ắp sự kiện phức tạp của hai năm 1945-1946[2]? Hi vọng sẽ có nhà nghiên cứu lấp được lỗ hổng thông tin đó. Phần mình, tôi chú ý đến văn bản lạ này vì chỉ qua vài dòng, chân dung ông Hồ được bổ sung thêm một số nét, khiến việc đọc phía sau mặt chữ trở nên thú vị. Phía sau mặt chữ, chứ không phải giữa hai hàng chữ. Thông điệp ở đây là rõ ràng, không có gì hàm hồ, bóng gió.
Một người như thế nào thì có thể cho phép mình phát ngôn: “Tôi hạ lệnh cho nhân dân”? Trong mọi ngôn ngữ, câu này đều tất yếu gây ra ấn tượng về một nhà độc tài. Các nhà lãnh đạo quốc gia ở những thể chế phi độc tài không buột miệng ra một câu như vậy ngay cả khi ngủ mơ, ngay cả trong những khoảnh khắc họ không muốn gì hơn là được làm chính xác như thế. Nhưng ngay cả một Putin, một Lý Quang Diệu, một Hugo Chávez cũng không phát ngôn như vậy. Còn Hồ Chí Minh?
Cho đến trước đó chỉ có kinh nghiệm hoạt động cách mạng và tham gia lãnh đạo một số phong trào, tổ chức, đảng phái bí mật, ông Hồ dường như xa lạ với tất cả những gì làm nên một chính khách chuyên nghiệp. Ông cũng không chuẩn bị cho mình và các đồng chí của ông một cơ sở lí luận và tư tưởng cho việc cầm quyền trong một nhà nước hoàn toàn mới, sinh ra từ việc chôn vùi nhà nước cũ [3]. Những năm tháng đầu tiên đứng đầu một nước Việt Nam mới, tác phong và ngôn ngữ của ông là của một bậc cha chú cai quản gia đình hay của một giáo chủ, một trưởng thượng, hơn là của một nguyên thủ quốc gia. Tuyệt đối tin vào uy tín của mình với quốc dân, toàn bộ uy lực khi hạ lệnh cho nhân dân của ông xuất phát từ lập luận: đồng bào yêu mến tôi thì nghe lời tôi. Các học trò của ông sau này, không người nào có thể tự tin vào uy tín của mình để hồn nhiên buông ra một lời như vậy. Tất nhiên vâng lời lãnh tụ theo tiếng gọi của tình cảm là một trong những cách cai trị ưa thích của các nhà độc tài và không hiếm khi kĩ năng mị dân của họ thăng hoa thành nghệ thuật tự lừa mị [4]. Nhân dân Bắc Triều Tiên chắc chắn cũng được giáo dục để có tình yêu trói buộc như thế với ba đời lãnh tụ họ Kim, và nhân dân Cuba với hai đời lãnh tụ họ Castro. Song ở trường hợp đang đề cập, tôi không khỏi có cảm giác rằng phát ngôn của ông Hồ, với tất cả tính gia trưởng của nó, có một sự ngây thơ và chân thành phù hợp với giai đoạn mà cuộc cách mạng của những người cộng sản Việt Nam còn ấu trĩ, ít nhiều trong trắng, chưa quay ra ăn thịt những đứa con của mình và nhe nanh vuốt với mọi đảng phái chính trị khác từng một thời đồng hành. Nhiều lần tôi đã cảm động khi đọc một số bức thư, lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch ở giai đoạn này và trong vài năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Ở đó tôi thấy một chính khách bất đắc dĩ, tầm vóc tư tưởng không có gì kiệt xuất, nhận thức về thế giới tương đối sơ sài, kinh nghiệm điều hành quốc gia ít ỏi, nhưng đầy lãng mạn và còn đậm tính cách riêng tư.
Với thời gian, những nét riêng tư ít nhiều chân thực của Hồ Chí Minh dần nhường chỗ cho một hình ảnh nhân tạo ngày càng hoàn hảo. Sự hấp dẫn của cá nhân con người Hồ Chí Minh dần nhường chỗ cho sự sùng bái biểu tượng Hồ Chí Minh. Ông không còn hạ lệnh cho nhân dân nữa, dù đồng bào không thôi yêu mến ông và vẫn sẵn sàng nghe lời ông. Song nhà nước mà ông liên tục đứng đầu gần một phần tư thế kỉ cho đến khi qua đời đã trở thành một chính thể độc tài hoàn thiện. Ngôn ngữ cá nhân ít nhiều xác thực của lời kêu gọi nêu trên, bất chấp nội dung của nó, sẽ dần nhường chỗ cho một ngôn ngữ tuyên truyền công cộng thô thiển và giáo điều, cơ sở của toàn bộ ngôn ngữ tuyên giáo kinh hoàng mà hiện nay chúng ta còn phải chịu đựng. Càng đọc Hồ Chí Minh sau này, tôi càng thấy là các nhà tuyên giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam cho đến giờ phút này không làm một việc gì khác ngoài lặp lại chính xác không những cái gọi là “tư tưởng Hồ Chí Minh”, mà còn áp dụng trung thành cả những cách diễn đạt, những lập luận và những thuật ngữ chính trị mà ông là cha đẻ.
Hồ Chí Minh là một nhân vật lắp ghép từ rất nhiều mảnh to nhỏ, lỗ đen và khoảng trống. Trong bức tranh chiết trung lạ lùng này, mảng mầu của hai năm 1945-1946 có lẽ là tươi thắm hơn cả.
© 2013 pro&contra
Lời kêu gọi đồng bào Bắc Bộ
Hỡi đồng bào Bắc Bộ!
Việc bất hợp tác sáng hôm qua chẳng những không do mệnh lệnh Chính phủ mà trái với chính sách Chính phủ. Việc đó tỏ rằng một số quốc dân chưa hiểu kỷ luật. Biết theo những mệnh lệnh Chính phủ, làm cho thế giới thấy rằng dân tộc ta xứng đáng độc lập, Chính phủ ta có đủ oai quyền. Vậy tôi, Hồ Chí Minh, Chủ tịch Chính phủ Lâm thời, hạ lệnh cho nhân dân Bắc Bộ lập tức đình chỉ việc bất hợp tác, giữ thái độ bình tĩnh giúp Chính phủ giữ gìn trật tự.
Đồng bào yêu mến tôi, nghe lời tôi.
Người đọc không được biết gì về bối cảnh của lời kêu gọi đó, ngoài xuất xứ rằng nó được in trong cuốn Lời Hồ Chủ tịch của Nxb Tiến Hóa, Hà Nội, năm 1946, trang 45. Nhân dân Bắc Bộ đã biểu thị sự bất hợp tác với ai và như thế nào [1]? “Sáng hôm qua” là sáng ngày nào trong những ngày đầy ắp sự kiện phức tạp của hai năm 1945-1946[2]? Hi vọng sẽ có nhà nghiên cứu lấp được lỗ hổng thông tin đó. Phần mình, tôi chú ý đến văn bản lạ này vì chỉ qua vài dòng, chân dung ông Hồ được bổ sung thêm một số nét, khiến việc đọc phía sau mặt chữ trở nên thú vị. Phía sau mặt chữ, chứ không phải giữa hai hàng chữ. Thông điệp ở đây là rõ ràng, không có gì hàm hồ, bóng gió.
Một người như thế nào thì có thể cho phép mình phát ngôn: “Tôi hạ lệnh cho nhân dân”? Trong mọi ngôn ngữ, câu này đều tất yếu gây ra ấn tượng về một nhà độc tài. Các nhà lãnh đạo quốc gia ở những thể chế phi độc tài không buột miệng ra một câu như vậy ngay cả khi ngủ mơ, ngay cả trong những khoảnh khắc họ không muốn gì hơn là được làm chính xác như thế. Nhưng ngay cả một Putin, một Lý Quang Diệu, một Hugo Chávez cũng không phát ngôn như vậy. Còn Hồ Chí Minh?
Cho đến trước đó chỉ có kinh nghiệm hoạt động cách mạng và tham gia lãnh đạo một số phong trào, tổ chức, đảng phái bí mật, ông Hồ dường như xa lạ với tất cả những gì làm nên một chính khách chuyên nghiệp. Ông cũng không chuẩn bị cho mình và các đồng chí của ông một cơ sở lí luận và tư tưởng cho việc cầm quyền trong một nhà nước hoàn toàn mới, sinh ra từ việc chôn vùi nhà nước cũ [3]. Những năm tháng đầu tiên đứng đầu một nước Việt Nam mới, tác phong và ngôn ngữ của ông là của một bậc cha chú cai quản gia đình hay của một giáo chủ, một trưởng thượng, hơn là của một nguyên thủ quốc gia. Tuyệt đối tin vào uy tín của mình với quốc dân, toàn bộ uy lực khi hạ lệnh cho nhân dân của ông xuất phát từ lập luận: đồng bào yêu mến tôi thì nghe lời tôi. Các học trò của ông sau này, không người nào có thể tự tin vào uy tín của mình để hồn nhiên buông ra một lời như vậy. Tất nhiên vâng lời lãnh tụ theo tiếng gọi của tình cảm là một trong những cách cai trị ưa thích của các nhà độc tài và không hiếm khi kĩ năng mị dân của họ thăng hoa thành nghệ thuật tự lừa mị [4]. Nhân dân Bắc Triều Tiên chắc chắn cũng được giáo dục để có tình yêu trói buộc như thế với ba đời lãnh tụ họ Kim, và nhân dân Cuba với hai đời lãnh tụ họ Castro. Song ở trường hợp đang đề cập, tôi không khỏi có cảm giác rằng phát ngôn của ông Hồ, với tất cả tính gia trưởng của nó, có một sự ngây thơ và chân thành phù hợp với giai đoạn mà cuộc cách mạng của những người cộng sản Việt Nam còn ấu trĩ, ít nhiều trong trắng, chưa quay ra ăn thịt những đứa con của mình và nhe nanh vuốt với mọi đảng phái chính trị khác từng một thời đồng hành. Nhiều lần tôi đã cảm động khi đọc một số bức thư, lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch ở giai đoạn này và trong vài năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Ở đó tôi thấy một chính khách bất đắc dĩ, tầm vóc tư tưởng không có gì kiệt xuất, nhận thức về thế giới tương đối sơ sài, kinh nghiệm điều hành quốc gia ít ỏi, nhưng đầy lãng mạn và còn đậm tính cách riêng tư.
Với thời gian, những nét riêng tư ít nhiều chân thực của Hồ Chí Minh dần nhường chỗ cho một hình ảnh nhân tạo ngày càng hoàn hảo. Sự hấp dẫn của cá nhân con người Hồ Chí Minh dần nhường chỗ cho sự sùng bái biểu tượng Hồ Chí Minh. Ông không còn hạ lệnh cho nhân dân nữa, dù đồng bào không thôi yêu mến ông và vẫn sẵn sàng nghe lời ông. Song nhà nước mà ông liên tục đứng đầu gần một phần tư thế kỉ cho đến khi qua đời đã trở thành một chính thể độc tài hoàn thiện. Ngôn ngữ cá nhân ít nhiều xác thực của lời kêu gọi nêu trên, bất chấp nội dung của nó, sẽ dần nhường chỗ cho một ngôn ngữ tuyên truyền công cộng thô thiển và giáo điều, cơ sở của toàn bộ ngôn ngữ tuyên giáo kinh hoàng mà hiện nay chúng ta còn phải chịu đựng. Càng đọc Hồ Chí Minh sau này, tôi càng thấy là các nhà tuyên giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam cho đến giờ phút này không làm một việc gì khác ngoài lặp lại chính xác không những cái gọi là “tư tưởng Hồ Chí Minh”, mà còn áp dụng trung thành cả những cách diễn đạt, những lập luận và những thuật ngữ chính trị mà ông là cha đẻ.
Hồ Chí Minh là một nhân vật lắp ghép từ rất nhiều mảnh to nhỏ, lỗ đen và khoảng trống. Trong bức tranh chiết trung lạ lùng này, mảng mầu của hai năm 1945-1946 có lẽ là tươi thắm hơn cả.
© 2013 pro&contra
[1] Trong bản đăng lúc đầu, ở đoạn này tôi viết: “Nhân dân Bắc Bộ đã biểu thị sự bất hợp tác với chính quyền mới như thế nào? Vì lí do gì?”. Có ý kiến độc giả lưu ý rằng trong bối cảnh lịch sử khi đó, ông Hồ muốn nói đến sự bất hợp tác với Pháp. Tôi ghi nhận góp ý xác đáng đó, và xin phép sửa lại thành: “Nhân dân Bắc Bộ đã biểu thị sự bất hợp tác với ai và như thế nào?”. Xin cảm ơn độc giả.
[2] Chính phủ Lâm thời chỉ tồn tại đến hết năm 1945 và từ ngày 01-01-1946 được thay thế bằng Chính phủ Liên hiệp Lâm thời. Như vậy, có thể lời kêu gọi này liên quan đến một sự kiện diễn ra ngay trong năm 1945 nhưng năm 1946 mới được đưa vào sách.
[3] Trước Cách mạng tháng Mười, khi lưu vong và sống trong một túp lều ở Phần Lan, Lenin đã viết tác phẩm kinh điển về nhà nước chuyên chính vô sản Nhà nước và cách mạng. Không ai yêu cầu ở Hồ Chí Minh một tầm vóc tương tự, nhưng trước tác chính luận chủ đạo của ông, nếu ông cũng chính là Nguyễn Ái Quốc, trước tháng Tám 1945, gồm: Bản án chế độ thực dân Pháp (1925), Đường cách mệnh (1925-1927) tập hợp bài giảng về kiến thức chính trị phổ thông ở các lớp huấn luyện chính trị Quảng Châu và Chiến thuật du kích (1942-1944), cho thấy một sự nghèo nàn đáng chú ý ở một nhà cách mạng có ảnh hưởng quyết định đến số phận của một dân tộc cho đến tận bây giờ.
[4] Trong phiên họp ngày 13-11-1989 của Quốc hội Cộng hòa Dân chủ Đức, phiên họp đầu tiên sau khi Bức tường Berlin sụp đổ, khi bị chất vấn trách nhiệm, ông Erich Mielke, Bộ trưởng An ninh Quốc gia (Stasi) Đông Đức đã thốt lên: “Tôi yêu mến tất cả mọi người cơ mà… Tôi phấn đấu cho tình yêu đó cơ mà.” (Ich liebe doch alle Menschen. Ich setze mich doch dafür ein.)
Phạm Thị Hoài
@procontra.asia
Sunday, May 19, 2013
China
Giấc mộng của Trung Quốc
Giải phẫu “Trung Quốc Mộng” Của Tập Cận Bình
Từ đầu năm nay, truyền thông Anh ngữ của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc đã trăm lần nói đến “Trung Quốc Mộng,” một mục tiêu do lãnh tụ mới lên là Tập Cận Bình đề ra. Dư luận bèn tìm hiểu nội dung của khẩu hiệu mới để từ đấy suy đoán ra những gì lãnh đạo Trung Quốc sẽ tiến hành trong những năm tới. Hồ Sơ Người Việt đề cập đến chuyện này hầu quý độc giả...
Các lãnh tụ lập thuyết
Khác hẳn lãnh đạo của các nước trên thế giới, lãnh đạo Trung Hoa từ ngàn xưa đã có thói quen tìm tòi mỹ từ tốt đẹp nhất để nói về triều đại của mình. Ngoài niên hiệu có thể đổi thay, thụy hiệu sử dụng sau khi vị hoàng đế tạ thế có thể là một chuỗi dằng dặc những từ rất kêu, rất đẹp để hậu thế nhắc nhở. Văn hóa Việt Nam dưới ảnh hưởng Trung Quốc cũng có lệ này, làm các nhà viết sử hoặc trẻ em học sử phân vân không ít về cách gọi tên khi sống và khi chết.
Qua thế kỷ 20, và từ năm 1949, lãnh đạo của Trung Hoa dưới chế độ cộng sản có đổi mới. Họ không dùng cách gọi đầy màu sắc phong kiến thời xưa vì có tham vọng khoa học hơn. Dùng chữ nghĩa để làm thay đổi nhận thức của thần dân về chương trình hành động của lãnh đạo. Thế giới bên ngoài thì lầm tưởng là do ảnh hưởng của Marx, các lãnh tụ cộng sản Trung Hoa cải tạo sinh hoạt kinh tế ở dưới hạ tầng nhằm chi phối nhận thức của con người trên thượng tầng theo quy luật “vật chất quyết định tư tưởng,” hoặc “duy vật biện chứng pháp.” Lãnh tụ Bắc Kinh tinh vi hơn vậy.
Ði xa hơn Marx, họ áp dụng phương pháp của Lenin, là làm thay đổi xã hội từ cả hai giác độ vật chất lẫn tinh thần. Nghĩa là vừa cải tạo kinh tế vừa quyết định một cách tiên thiên từ đầu, rằng tư tưởng này là đúng, cách lý luận kia là sai. Ðiều ấy mới giải thích những chiến dịch đàn áp văn nghệ sĩ trong nỗ lực cải tạo tư tưởng hay cách mạng văn hóa. Vào một dịp khác, Hồ Sơ Người Việt sẽ trở lại vấn đề này mà chỉ xin nhắc nhở quý độc giả là phải tìm đọc cuốn biên khảo công phu của Thụy Khuê về vụ Nhân Văn Giai Phẩm và về con người Hồ Chí Minh.
Trở lại chuyện Trung Hoa Cộng Sản, hay Trung Cộng, người ta không quên nét văn hóa Trung Hoa trong chế độ khởi đi từ Mao Trạch Ðông. Là dùng mỹ từ thật ngắn mà thật kêu làm khẩu hiệu cho nhiều chiến dịch cải tạo xã hội hay thanh trừng chính trị. Ðã là lãnh tụ thì phải sính làm thơ và là người lập thuyết, dựng ra những lý thuyết làm tư tưởng chỉ đạo cho cả xã hội. Ðặc tính ấy nổi bật ở Mao Trạch Ðông và được Hồ Chí Minh học theo với cả trăm bài diễn văn được kết tập thành sách và một số bài thơ có khi ăn cắp của người khác.
Qua thế kỷ 20, và từ năm 1949, lãnh đạo của Trung Hoa dưới chế độ cộng sản có đổi mới. Họ không dùng cách gọi đầy màu sắc phong kiến thời xưa vì có tham vọng khoa học hơn. Dùng chữ nghĩa để làm thay đổi nhận thức của thần dân về chương trình hành động của lãnh đạo. Thế giới bên ngoài thì lầm tưởng là do ảnh hưởng của Marx, các lãnh tụ cộng sản Trung Hoa cải tạo sinh hoạt kinh tế ở dưới hạ tầng nhằm chi phối nhận thức của con người trên thượng tầng theo quy luật “vật chất quyết định tư tưởng,” hoặc “duy vật biện chứng pháp.” Lãnh tụ Bắc Kinh tinh vi hơn vậy.
Ði xa hơn Marx, họ áp dụng phương pháp của Lenin, là làm thay đổi xã hội từ cả hai giác độ vật chất lẫn tinh thần. Nghĩa là vừa cải tạo kinh tế vừa quyết định một cách tiên thiên từ đầu, rằng tư tưởng này là đúng, cách lý luận kia là sai. Ðiều ấy mới giải thích những chiến dịch đàn áp văn nghệ sĩ trong nỗ lực cải tạo tư tưởng hay cách mạng văn hóa. Vào một dịp khác, Hồ Sơ Người Việt sẽ trở lại vấn đề này mà chỉ xin nhắc nhở quý độc giả là phải tìm đọc cuốn biên khảo công phu của Thụy Khuê về vụ Nhân Văn Giai Phẩm và về con người Hồ Chí Minh.
Trở lại chuyện Trung Hoa Cộng Sản, hay Trung Cộng, người ta không quên nét văn hóa Trung Hoa trong chế độ khởi đi từ Mao Trạch Ðông. Là dùng mỹ từ thật ngắn mà thật kêu làm khẩu hiệu cho nhiều chiến dịch cải tạo xã hội hay thanh trừng chính trị. Ðã là lãnh tụ thì phải sính làm thơ và là người lập thuyết, dựng ra những lý thuyết làm tư tưởng chỉ đạo cho cả xã hội. Ðặc tính ấy nổi bật ở Mao Trạch Ðông và được Hồ Chí Minh học theo với cả trăm bài diễn văn được kết tập thành sách và một số bài thơ có khi ăn cắp của người khác.
Những khẩu hiệu huy động
Sau 30 năm hoang tưởng chết người của Mao, Trung Quốc từ thời Ðặng Tiểu Bình trở về sau đã thay đổi theo hướng thực tiễn hơn, với các lãnh tụ không xuất thân cách mạng mà là kỹ sư hay kỹ thuật gia. Nhưng dấu vết văn hóa của lãnh tụ lập thuyết thì vẫn còn.
Vì vậy, người dân được thấm nhuần chuỗi khẩu hiệu về tinh thần chỉ đạo có đẳng cấp thứ tự: 1) Chủ nghĩa Mác-Lenin, 2) Tư tưởng Mao Trạch Ðông; 3) Lý luận Ðặng Tiểu Bình; 4) Phương pháp Giang Trạch Dân và 5) Kỹ thuật Hồ Cẩm Ðào. Là thế hệ lãnh đạo thứ tư vừa ra đi, Hồ Cẩm Ðào chưa có cống hiến nổi bật như Giang Trạch Dân. Mà họ Giang này cũng chưa thể bằng Ðặng Tiểu Bình và dù họ Ðặng mới thật có công cho sự nghiệp “cách mạng,” ông vẫn không vượt qua Mao Trạch Ðông.
Cũng vì Giang và Hồ chưa thể nào sánh với Mao và Ðặng, khi lãnh đạo thì họ cố tìm chữ đẹp như người dán nhãn hiệu lên cái chai với ước mơ rót đầy chai rỗng một nội dung tích cực cho đảng, nhân dân và hậu thế. Tập Cận Bình cũng không làm khác, nhưng đi sớm hơn.
Năm 2000, Giang Trạch Dân đưa ra thuyết “Tam Biểu” (Tam Cá Ðại Biểu) theo đó, đảng Cộng sản là đại biểu chân chính của 1) lực lượng sản xuất tiên tiến (hiểu theo ý nghĩa kinh tế của Marx), 2) văn hóa kỹ thuật tiên tiến (hiểu theo ý nghĩa văn hóa duy chủng của Trung Hoa), và 3) quyền lợi của đại đa số quần chúng nhân dân (hiểu theo tinh thần dân chủ tập trung của đảng).
Ðến Hồ Cẩm Ðào thì có hai khẩu hiệu mang tính chất chỉ đạo về tư tưởng và chính trị.
Khi lên lãnh đạo sau Ðại hội 16 từ năm 2002, vào đầu năm 2003, Hồ Cẩm Ðào nói đến quan niệm phát triển khoa học (“Khoa Học Phát Triển Quan”) để kết hợp các yếu tố đưa đến hình thái xã hội chủ nghĩa với màu sắc Trung Hoa do Ðặng Tiểu Bình đề ra. Ðó là 1) xã hội chủ nghĩa khoa học (về tư tưởng), 2) phát triển bền vững (về kinh tế), 3) xã hội phúc lợi (về xã hội), dân chủ (về chính trị). Loại nhãn hiệu có vẻ bao đồng này không có giá trị bằng một khẩu hiệu khác.
Ðó là “Hòa Hài Xã Hội” đưa ra từ năm trong tinh thần 1) phát triển xã hội hài hòa của nền văn hóa Khổng nho truyền thống, 2) cải sửa những dị biệt và bất công của chiến lược phát triền thời Ðặng và Giang; 3) tìm sự hòa đồng giữa Trung Quốc với thế giới bên ngoài, nhất là Hoa Kỳ.
Phải nhắc đến bối cảnh ấy, chúng ta mới hiểu ra chuyện thời nay. Vừa lên lãnh đạo sau Ðại hội 18 vào Tháng Mười Một năm ngoái, và cầm quyền từ khóa họp của Quốc Hội vào Tháng Ba vừa qua, Tập Cận Bình đã rất nhiều lần nói đến “Trung Quốc Mộng.”
Nội dung “Giấc mơ của Trung Quốc” có thể là gì?
Vì vậy, người dân được thấm nhuần chuỗi khẩu hiệu về tinh thần chỉ đạo có đẳng cấp thứ tự: 1) Chủ nghĩa Mác-Lenin, 2) Tư tưởng Mao Trạch Ðông; 3) Lý luận Ðặng Tiểu Bình; 4) Phương pháp Giang Trạch Dân và 5) Kỹ thuật Hồ Cẩm Ðào. Là thế hệ lãnh đạo thứ tư vừa ra đi, Hồ Cẩm Ðào chưa có cống hiến nổi bật như Giang Trạch Dân. Mà họ Giang này cũng chưa thể bằng Ðặng Tiểu Bình và dù họ Ðặng mới thật có công cho sự nghiệp “cách mạng,” ông vẫn không vượt qua Mao Trạch Ðông.
Cũng vì Giang và Hồ chưa thể nào sánh với Mao và Ðặng, khi lãnh đạo thì họ cố tìm chữ đẹp như người dán nhãn hiệu lên cái chai với ước mơ rót đầy chai rỗng một nội dung tích cực cho đảng, nhân dân và hậu thế. Tập Cận Bình cũng không làm khác, nhưng đi sớm hơn.
Năm 2000, Giang Trạch Dân đưa ra thuyết “Tam Biểu” (Tam Cá Ðại Biểu) theo đó, đảng Cộng sản là đại biểu chân chính của 1) lực lượng sản xuất tiên tiến (hiểu theo ý nghĩa kinh tế của Marx), 2) văn hóa kỹ thuật tiên tiến (hiểu theo ý nghĩa văn hóa duy chủng của Trung Hoa), và 3) quyền lợi của đại đa số quần chúng nhân dân (hiểu theo tinh thần dân chủ tập trung của đảng).
Ðến Hồ Cẩm Ðào thì có hai khẩu hiệu mang tính chất chỉ đạo về tư tưởng và chính trị.
Khi lên lãnh đạo sau Ðại hội 16 từ năm 2002, vào đầu năm 2003, Hồ Cẩm Ðào nói đến quan niệm phát triển khoa học (“Khoa Học Phát Triển Quan”) để kết hợp các yếu tố đưa đến hình thái xã hội chủ nghĩa với màu sắc Trung Hoa do Ðặng Tiểu Bình đề ra. Ðó là 1) xã hội chủ nghĩa khoa học (về tư tưởng), 2) phát triển bền vững (về kinh tế), 3) xã hội phúc lợi (về xã hội), dân chủ (về chính trị). Loại nhãn hiệu có vẻ bao đồng này không có giá trị bằng một khẩu hiệu khác.
Ðó là “Hòa Hài Xã Hội” đưa ra từ năm trong tinh thần 1) phát triển xã hội hài hòa của nền văn hóa Khổng nho truyền thống, 2) cải sửa những dị biệt và bất công của chiến lược phát triền thời Ðặng và Giang; 3) tìm sự hòa đồng giữa Trung Quốc với thế giới bên ngoài, nhất là Hoa Kỳ.
Phải nhắc đến bối cảnh ấy, chúng ta mới hiểu ra chuyện thời nay. Vừa lên lãnh đạo sau Ðại hội 18 vào Tháng Mười Một năm ngoái, và cầm quyền từ khóa họp của Quốc Hội vào Tháng Ba vừa qua, Tập Cận Bình đã rất nhiều lần nói đến “Trung Quốc Mộng.”
Nội dung “Giấc mơ của Trung Quốc” có thể là gì?
Viễn ảnh Tập Cận Bình
Do thể chế đặc biệt của Trung Quốc Cộng sản hiện nay, các lãnh tụ mới lên đều là ẩn số với rất ít thông tin được công bố ra ngoài. Vì vậy, khi họ lên cầm quyền, giới quan sát bên ngoài phải ráo riết tìm hiểu để từ đó suy đoán ra chiều hướng của quốc gia này trong tương lai. Thật ra, Tập Cận Bình hay Lý Khắc Cường - hai nhân vật tiêu biểu đứng hạng nhất hạng nhì của “thế hệ thứ năm” - đã được các thế hệ lãnh đạo Giang-Hồ sàng lọc từ cả chục năm rồi.
Họ được gọi là “Thế hệ Tập-Lý.”
Nhưng khác với Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Ðào, Tập Cận Bình vừa lên ngôi là nắm ngay ba ấn tính lãnh đạo đảng, nhà nước và quân đội: Tổng bí thư đảng, Chủ tịch Nhà nước và Chủ tịch Trung ương Quân ủy hội. Quân ủy hội là hai cơ chế có cùng tên và cùng thành phần nhân sự bên đảng và nhà nước để lãnh đạo quân đội. Giang và Hồ phải chờ ba năm mới giữ vị trí đó. Tập Cận Bình thì được Hồ Cẩm Ðào nhường chức ngay sau Ðại hội 18. (Xin quý độc giả tìm lại loạt bài của Hồ Sơ Người Việt về hệ thống quyền lực Trung Quốc từ năm ngoái, trước khi có Ðại hội 18).
Người ta có nhiều cách giải thích hiện tượng tập trung quyền lực rất sớm như vậy.
Một là Tập Cận Bình có bản lãnh. Hai là được hậu thuẫn của Giang Trạch Dân, phe “Thái tử đảng” và “cánh Thượng Hải” để sớm đẩy lui Hồ Cẩm Ðào và “Ðoàn phái,” các đảng viên cao cấp xuất thân từ Ðoàn Thanh Niên Cộng Sản. Ba là vì tình hình có quá nhiều vấn đề cấp bách nên các phe phái đều đồng ý gác bỏ mọi dị biệt để Tập Cận Bình sớm có đầy đủ quyền hạn.
Thế giới bên ngoài chưa thể biết sự thật, nhưng nhiều khó khăn chồng chất về kinh tế, xã hội và nhất là chính trị trên thượng tầng đảng suốt năm ngoái (kể cả vụ cách chức Bí thư Bạc Hy Lai của Trùng Khánh) có thể là lý do chính khiến Tập Cận Bình thâu tóm được quyền lực rất sớm.
Không những vậy, cách bố trí nhân sự lãnh đạo đảng với bảy ủy viên (thay vì chín người) trong Thường Vụ Bộ Chính Trị theo xu hướng bảo thủ còn cho thấy ý chí quyết liệt củng cố quyền lực của đảng. Thứ nữa, việc tái tổ chức nhân sự lãnh đạo Quốc Vụ Viện (Hội Ðồng Chính Phủ) cho tinh giản với ít phủ bộ hơn mà mỗi bộ phận lại có nhiều quyền hạn hơn có thể phản ảnh nỗ lực kiện toàn một bộ máy hành động bén nhạy hơn tại trung ương. Thứ ba, nhiều nhân vật thuộc xu hướng thực tiễn - không hẳn là cởi mở - có thể đã mất cơ hội vào Thường Vụ Bộ Chính Trị (như Lưu Yến Ðông, Uông Dương hay Mã Khải) nhưng lại giữ vị trí phó thủ tướng và phụ trách các hồ sơ kinh tế.
Thứ tư, nhân vật số hai trong đảng không là người chỉ đạo về chính trị, như trường hợp Ngô Bang Quốc trước đây, mà là tổng lý Quốc Vụ Viện tức là Thủ Tướng Lý Khắc Cường.
Như vậy, ưu tiên của thế hệ Tập-Lý vẫn là phát triển kinh tế, nhưng với điều kiện là bảo vệ hệ thống chính trị. Việc cải cách chính trị theo cùng nhịp độ cải cách kinh tế là không có. Ðấy là bối cảnh rộng lớn và sâu xa để chúng ta tìm hiểu về “Trung Quốc Mộng” của Tập Cận Bình.
Họ được gọi là “Thế hệ Tập-Lý.”
Nhưng khác với Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Ðào, Tập Cận Bình vừa lên ngôi là nắm ngay ba ấn tính lãnh đạo đảng, nhà nước và quân đội: Tổng bí thư đảng, Chủ tịch Nhà nước và Chủ tịch Trung ương Quân ủy hội. Quân ủy hội là hai cơ chế có cùng tên và cùng thành phần nhân sự bên đảng và nhà nước để lãnh đạo quân đội. Giang và Hồ phải chờ ba năm mới giữ vị trí đó. Tập Cận Bình thì được Hồ Cẩm Ðào nhường chức ngay sau Ðại hội 18. (Xin quý độc giả tìm lại loạt bài của Hồ Sơ Người Việt về hệ thống quyền lực Trung Quốc từ năm ngoái, trước khi có Ðại hội 18).
Người ta có nhiều cách giải thích hiện tượng tập trung quyền lực rất sớm như vậy.
Một là Tập Cận Bình có bản lãnh. Hai là được hậu thuẫn của Giang Trạch Dân, phe “Thái tử đảng” và “cánh Thượng Hải” để sớm đẩy lui Hồ Cẩm Ðào và “Ðoàn phái,” các đảng viên cao cấp xuất thân từ Ðoàn Thanh Niên Cộng Sản. Ba là vì tình hình có quá nhiều vấn đề cấp bách nên các phe phái đều đồng ý gác bỏ mọi dị biệt để Tập Cận Bình sớm có đầy đủ quyền hạn.
Thế giới bên ngoài chưa thể biết sự thật, nhưng nhiều khó khăn chồng chất về kinh tế, xã hội và nhất là chính trị trên thượng tầng đảng suốt năm ngoái (kể cả vụ cách chức Bí thư Bạc Hy Lai của Trùng Khánh) có thể là lý do chính khiến Tập Cận Bình thâu tóm được quyền lực rất sớm.
Không những vậy, cách bố trí nhân sự lãnh đạo đảng với bảy ủy viên (thay vì chín người) trong Thường Vụ Bộ Chính Trị theo xu hướng bảo thủ còn cho thấy ý chí quyết liệt củng cố quyền lực của đảng. Thứ nữa, việc tái tổ chức nhân sự lãnh đạo Quốc Vụ Viện (Hội Ðồng Chính Phủ) cho tinh giản với ít phủ bộ hơn mà mỗi bộ phận lại có nhiều quyền hạn hơn có thể phản ảnh nỗ lực kiện toàn một bộ máy hành động bén nhạy hơn tại trung ương. Thứ ba, nhiều nhân vật thuộc xu hướng thực tiễn - không hẳn là cởi mở - có thể đã mất cơ hội vào Thường Vụ Bộ Chính Trị (như Lưu Yến Ðông, Uông Dương hay Mã Khải) nhưng lại giữ vị trí phó thủ tướng và phụ trách các hồ sơ kinh tế.
Thứ tư, nhân vật số hai trong đảng không là người chỉ đạo về chính trị, như trường hợp Ngô Bang Quốc trước đây, mà là tổng lý Quốc Vụ Viện tức là Thủ Tướng Lý Khắc Cường.
Như vậy, ưu tiên của thế hệ Tập-Lý vẫn là phát triển kinh tế, nhưng với điều kiện là bảo vệ hệ thống chính trị. Việc cải cách chính trị theo cùng nhịp độ cải cách kinh tế là không có. Ðấy là bối cảnh rộng lớn và sâu xa để chúng ta tìm hiểu về “Trung Quốc Mộng” của Tập Cận Bình.
Hiện đại hóa giấc mơ ngàn đời
Nhiều nhà quan sát Tây phương có thể bị ảnh hưởng từ tinh thần chủ quan của Hoa Kỳ mà cho là Tập Cận Bình chọn khẩu hiệu là “Giấc mơ Trung Quốc” như một phản diện của “Giấc mơ Hoa Kỳ,” the American Dream. Thật ra, họ Tập không đến nỗi thụ động, tiêu cực hay nông cạn như vậy.
Lần đầu tiên ông ta nói ra khẩu hiệu này là tại Viện Bảo Tàng Quốc Gia (Quốc Gia Bác Vật Viện) tại Bắc Kinh trong cuộc triển lãm nặng tính chất tuyên truyền về “Ðường Canh Tân” vào Tháng Mười Một năm ngoái. Cuộc triển lãm khai thác hội chứng nạn nhân của Trung Quốc khi bị liệt cường sâu xé làm xã hội lụn bại, quốc gia lâm nguy cả trăm năm, từ giữa thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20. Với khẩu hiệu mới, Tập Cận Bình khơi dậy tinh thần ái quốc và tự ái dân tộc và nhấn mạnh đến vai trò phục quốc của đảng Cộng sản. Ðộng lực chính trị nằm ở đó, với hậu quả tất nhiên là tỏa ra nhiều mặt, kể cả mặt quân sự hay nhu cầu bảo vệ “quyền lợi cốt lõi” mà các nước khác gọi là chủ nghĩa bành trướng, bá quyền.
Thực tế thì Trung Quốc đã từng là bá quyền, với tổng sản lượng kinh tế bằng phân nửa của sản lượng toàn cầu vào thời thịnh đạt của nhà Ðại Thanh. Ngày nay, Trung Quốc sẽ tìm lại giấc mơ họ coi là chính đáng này.
Một cách cụ thể hơn, ít ra về kinh tế, giấc mơ đó là trong 10 năm sắp tới, lãnh đạo phải nâng được lợi tức đồng niên của mỗi người dân qua cái ngưỡng tâm lý là 10 ngàn đô la. Hiện nay, mỗi người mới chỉ có được chừng sáu ngàn và dù nhân với dân số hơn một tỷ ba thì sản lượng toàn quốc có thể mấp mé sản lượng của Hoa Kỳ, Trung Quốc vẫn là nước nghèo. Mỗi người dân Mỹ hiện có lợi tức quãng 42 ngàn đô la một năm, gấp bảy dân Tầu đông gấp bốn lần rưỡi. Giấc mơ của Tập Cận Bình là đến ngày kỷ niệm trăm năm lập quốc của đảng (1949-2050), người dân sẽ có lợi tức 42 ngàn, bằng dân Mỹ ngày nay. Nhìn lại thì giấc mơ đó cũng dễ hiểu và tầm thường.
Ðấy là sự hiện đại hóa giấc mơ “tiểu khang” của Ðặng Tiểu Bình: lấy chữ từ một bài ca dao trong Kinh Thi, họ Ðặng thực tiễn đề ra chủ trương cải cách kinh tế hầu cho nhà nào cũng có đủ ăn trong một “xã hội tiểu khang,” có mức thịnh vượng trung bình. Ba chục năm sau khi Ðặng Tiểu Bình cải cách và mở cửa, tiêu chuẩn “tiểu khang” được nâng lên chút đỉnh để theo kịp thiên hạ.
Nhiều nhà quan sát Tây phương có thể nhìn vào nỗ lực đó mà kết luận rằng lãnh đạo thời nay của Trung Quốc đã lặng lẽ buông bỏ ý thức hệ cộng sản hay xã hội chủ nghĩa để đi tìm thành quả thực tế về kinh tế. Ðiều này vẫn có thể sai. Lãnh đạo Trung Quốc muốn hiện đại hóa chủ nghĩa xã hội bằng văn hóa tư tưởng Trung Hoa và gọi đó là “xã hội chủ nghĩa với màu sắc Trung Hoa.” Giấc mơ của Tập Cận Bình nhắm vào đó.
Sau khi phát biểu, rằng “giấc mơ Trung Quốc là lý tưởng của mọi người dân Trung Hoa,” lãnh tụ đảng Cộng sản Trung Hoa nhấn mạnh, rằng “người cộng sản phải có lý tưởng cao hơn, đó là chủ nghĩa cộng sản.”
Lần đầu tiên ông ta nói ra khẩu hiệu này là tại Viện Bảo Tàng Quốc Gia (Quốc Gia Bác Vật Viện) tại Bắc Kinh trong cuộc triển lãm nặng tính chất tuyên truyền về “Ðường Canh Tân” vào Tháng Mười Một năm ngoái. Cuộc triển lãm khai thác hội chứng nạn nhân của Trung Quốc khi bị liệt cường sâu xé làm xã hội lụn bại, quốc gia lâm nguy cả trăm năm, từ giữa thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20. Với khẩu hiệu mới, Tập Cận Bình khơi dậy tinh thần ái quốc và tự ái dân tộc và nhấn mạnh đến vai trò phục quốc của đảng Cộng sản. Ðộng lực chính trị nằm ở đó, với hậu quả tất nhiên là tỏa ra nhiều mặt, kể cả mặt quân sự hay nhu cầu bảo vệ “quyền lợi cốt lõi” mà các nước khác gọi là chủ nghĩa bành trướng, bá quyền.
Thực tế thì Trung Quốc đã từng là bá quyền, với tổng sản lượng kinh tế bằng phân nửa của sản lượng toàn cầu vào thời thịnh đạt của nhà Ðại Thanh. Ngày nay, Trung Quốc sẽ tìm lại giấc mơ họ coi là chính đáng này.
Một cách cụ thể hơn, ít ra về kinh tế, giấc mơ đó là trong 10 năm sắp tới, lãnh đạo phải nâng được lợi tức đồng niên của mỗi người dân qua cái ngưỡng tâm lý là 10 ngàn đô la. Hiện nay, mỗi người mới chỉ có được chừng sáu ngàn và dù nhân với dân số hơn một tỷ ba thì sản lượng toàn quốc có thể mấp mé sản lượng của Hoa Kỳ, Trung Quốc vẫn là nước nghèo. Mỗi người dân Mỹ hiện có lợi tức quãng 42 ngàn đô la một năm, gấp bảy dân Tầu đông gấp bốn lần rưỡi. Giấc mơ của Tập Cận Bình là đến ngày kỷ niệm trăm năm lập quốc của đảng (1949-2050), người dân sẽ có lợi tức 42 ngàn, bằng dân Mỹ ngày nay. Nhìn lại thì giấc mơ đó cũng dễ hiểu và tầm thường.
Ðấy là sự hiện đại hóa giấc mơ “tiểu khang” của Ðặng Tiểu Bình: lấy chữ từ một bài ca dao trong Kinh Thi, họ Ðặng thực tiễn đề ra chủ trương cải cách kinh tế hầu cho nhà nào cũng có đủ ăn trong một “xã hội tiểu khang,” có mức thịnh vượng trung bình. Ba chục năm sau khi Ðặng Tiểu Bình cải cách và mở cửa, tiêu chuẩn “tiểu khang” được nâng lên chút đỉnh để theo kịp thiên hạ.
Nhiều nhà quan sát Tây phương có thể nhìn vào nỗ lực đó mà kết luận rằng lãnh đạo thời nay của Trung Quốc đã lặng lẽ buông bỏ ý thức hệ cộng sản hay xã hội chủ nghĩa để đi tìm thành quả thực tế về kinh tế. Ðiều này vẫn có thể sai. Lãnh đạo Trung Quốc muốn hiện đại hóa chủ nghĩa xã hội bằng văn hóa tư tưởng Trung Hoa và gọi đó là “xã hội chủ nghĩa với màu sắc Trung Hoa.” Giấc mơ của Tập Cận Bình nhắm vào đó.
Sau khi phát biểu, rằng “giấc mơ Trung Quốc là lý tưởng của mọi người dân Trung Hoa,” lãnh tụ đảng Cộng sản Trung Hoa nhấn mạnh, rằng “người cộng sản phải có lý tưởng cao hơn, đó là chủ nghĩa cộng sản.”
Kết luận ở đây là gì?
Chúng ta mỉm cười nhớ lại lý luận vòng vo của Hồ Chí Minh, rằng “muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải có con người xã hội chủ nghĩa.” Hiện tượng đó không mới lạ vì vẫn phản ảnh tinh thần duy ý chí của người cộng sản.
Rằng chủ nghĩa, tư tưởng và quyền lực của đảng sẽ cải tạo mọi mặt kinh tế, xã hội, chính trị và văn hóa của quốc gia để đưa đất nước lên trình độ cao hơn.
Và trong giấc mơ mà Tập Cận Bình phả vào tâm trí của quần chúng như khói thuốc phiện, hoàn toàn không có giấc mơ cải cách hiến pháp để tiến tới một chế độ chính trị hiện đại. Họ vẫn theo đuổi chén cơm tiểu khang và bảo rằng đó là nhờ đảng.
Rằng chủ nghĩa, tư tưởng và quyền lực của đảng sẽ cải tạo mọi mặt kinh tế, xã hội, chính trị và văn hóa của quốc gia để đưa đất nước lên trình độ cao hơn.
Và trong giấc mơ mà Tập Cận Bình phả vào tâm trí của quần chúng như khói thuốc phiện, hoàn toàn không có giấc mơ cải cách hiến pháp để tiến tới một chế độ chính trị hiện đại. Họ vẫn theo đuổi chén cơm tiểu khang và bảo rằng đó là nhờ đảng.
Subscribe to:
Posts (Atom)