Saturday, December 20, 2014

Friday, December 19, 2014

Japan

Người Mỹ đã thay đổi nước Nhật ra sao?


Ngày 15 tháng 8 năm 1945, Nhật Bản chấp nhận đầu hàng vô điều kiện trước sức tấn công của quân đội Đồng Minh. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Nhật Bản ký hiệp ước đầu hàng với các nhà lãnh đạo quân đội Đồng Minh trên chiến hạm USS Missouri của Mỹ. Năm ngày sau khi Nhật ký hiệp ước đầu hàng, ngày 7 tháng 9 năm 1945, thống tướng Mỹ Douglas McArthur, người chỉ huy các lực lượng Đồng Minh tại Thái Bình Dương, thiết lập văn phòng làm việc tại Tokyo, mở đầu cho gian đoạn Mỹ  chiếm đóng nước Nhật kéo dài trong sáu năm, tám tháng. Trong giai đoạn này, ông McArthur đã đề ra nhiều biện pháp thay đổi nước Nhật về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội để biến nước Nhật từ một quốc gia hiếu chiến thành một nước đi theo con đường hòa bình, lo phát triển kinh tế.


Tình cảnh nước Nhật sau khi bại trận
Thành phố Hiroshima bị tàn phá bởi bom nguyên tử

Sau khi bị bại trận và phải đầu hàng vô điều kiện vào năm 1945, nước Nhật có nhiều thành phố bị tàn phá vì chiến tranh. Ngoài hai thành phố là Hisosima và Nagasaki bị san phẳng vì bom nguyên tử với hàng triệu người chết và bị thương, nhiều thành phố khác cũng bị tàn phá vì phi cơ Mỹ ném bom vào các khu trung tâm công nghiệp để triệt hạ sức sản xuất cho chiến tranh của Nhật. Khi người lính Mỹ đặt chân lên nước Nhật họ đã sững sờ vì mức độ nước Nhật bị tàn phá trên sự tưởng tượng của họ. Tại nhiều nơi, chỉ còn lại sườn sắt thép siêu vẹo, cột, đà gỗ bị cháy. Hệ thống cấp nước đến các nhà bị phá hủy nên ở một số nơi, người dân phải lấy nước ở vòi nước công cộng để sinh sống. Ở một số khu vực, nhà cửa bị hư hại không còn cầu tiêu nên người dân phải đào lỗ cạnh nhà để tiêu tiểu.

Trung tâm thương mại tại khu phố Meguro bị bom tàn phá nên năm 1948, các cửa hàng được dựng lên bằng tre lá . Đến thập niên 1970 khu này được xây dựng lại với các building kiên cố

Hàng triệu người lính giải ngũ cũng một lúc không có công ăn việc làm. Nhiều người dân thất nghiệp vì các nhà máy bị tàn phá. Ngoài đường phố nhiều cựu chiến binh và thương binh phải xin ăn.

Nạn thiếu thực phẩm đã xảy ra. Có trường hợp tại vùng quê có người nhảy lên tàu hỏa để đi lên thành phố xem có thể kiếm gì ăn được. Nhiều người phải tìm rau dại, đào củ ăn thay cơm. Mỹ đã phải cấp tốc chở gạo cứu đói đến cho Nhật. Nhiều trẻ em lớn lên vào thời kỳ này vì thiếu ăn nên đã bị còi cọc, không lớn được.

Nạn lạm phát lên cao. Nạn chợ đen cũng lan tràn. Hàng hóa rất khan hiếm vì nhà máy bị phá hủy hết. Người dân Nhật lúc đó rất nghèo, chỉ có ít tiền nhưng cũng chẳng có gì để mà mua.
 Thủ đô Tokyo điêu tàn vì bom đạn

Lính Mỹ đi tuần trên một chiếc cầu tại Tokyo với cảnh tàn phá xung quanh

Vì Nhật bị thua phải chấp nhận đầu hàng vô điều kiện nên phải chấp nhận các biện pháp mà tướng McArthur đưa ra nhưng cũng có những người Nhật chấp nhận hợp tác với người Mỹ trong các cải cách về nước Nhật vì họ cũng đồng ý là các thay đổi này có lợi cho nước Nhật. Người Nhật đã gọi ông là vị Shogun Mỹ. Shogun nghĩa là Sứ Quân, là người đứng đầu một lãnh địa, vào thời Nhật còn bị nạn sứ quân chia cắt.

Việc làm đầu tiên của ông là ra lệnh chở lương thực và các vật dụng cần thiết cho đời sống đến Nhật để cứu đói và tránh các bất ổn xã hội do nạn đói và thiếu thốn gây ra.  Ông ra lệnh thực hiện chương trình cho học sinh ăn trưa tại các trường học Nhật.

Quân đội Mỹ tiến vào nước Nhật, giải thoát các tù binh Mỹ và thi hành các điều kiện đã ký kết trong văn bản đầu hàng. Toàn bộ quân đội Nhật bị giải tán. Các binh sĩ được cho về quê sống. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử nước Nhật, nước này bị quân đội ngoại bang chiếm đóng.

Lính Mỹ được lệnh phải tôn trọng phong tục tập quán của nước Nhật và giúp đỡ người dân, chẳng hạn, khi vào nhà phải cởi giày để ở bên ngoài, đứng điều khiển giao thông trước các trạm xe lửa có xe cộ đông đúc, giúp đỡ trẻ em thiếu ăn. Người Nhật cảm động trước cách cư xử này của lính Mỹ.

 Một bé gái Nhật cõng em, chụp tại Hiroshima năm 1945

Điều đầu tiên chính phủ Nhật chuẩn bị khi lính Mỹ tiến vào nước Nhật là mở ra hàng trăm nhà chứa điếm và các trạm giải trí để lính Mỹ đừng xâm phạm đến phụ nữ Nhật. Một số phụ nữ Nhật lo sợ bị lính Mỹ hãm hiếp nên đã cắt tóc ngăn, ăn mặc giả như là đàn ông khi đi ra ngoài. Có người kể là có phụ nữ đem theo những viên thuốc độc cianide để phòng khi bị cưỡng hiếp thì họ sẽ uống thuốc độc tự tử để khỏi bị mang nhục.

Lúc đầu, lính Mỹ được ra lệnh khi đi ra khỏi doanh trại phải trang bị đầy đủ vũ khí giống như khi ra trận, không được phép thân mật hay kết bè bạn với người Nhật. Nhiều người Nhật phàn nàn về chính sách này và sau đó người Mỹ thấy người Nhật không có vẻ gì là thù hận người Mỹ và không có ý định hại người Mỹ nên sáu tháng sau, lệnh trên được bãi bỏ. Lính Mỹ có thể đi ra ngoài phố mà không cần phải đem vũ khí theo.
 Lính Mỹ chơi với trẻ em Nhật

Khi ra tướng McArthur ra trước quốc hội Mỹ để trình bày cho quốc hội biết kế hoạch ông sẽ thực hiện tại Nhật, ông nói là sẽ biến nước Nhật thành một nước dân chủ và theo kinh tế tư bản.

Chính sách của Mỹ tại Nhật sau chiến tranh là tìm cách loại bỏ các thành phần hiếu chiến đã chủ trương gây chiến tranh. Đồng thời với việc loại các thành phần hiếu chiến là sửa đổi kinh tế để các thành phần chủ chiến mất cơ sở về kinh tế. Về mặt xã hội, tinh thần thượng võ theo truyền thống của Nhật bị xóa bỏ bớt.

Đọc toàm bài :


Minh Đức

 

Wednesday, December 17, 2014

Thơ Thuận Nghĩa

KHÚC NGÀN CA


Ngày về với Thiên Di nhằm Tử, Vũ
Mộng bên trời xếp lại cuộc Tham Lang
Ta bỗng chốc hội rừng chiều Tý Ngọ
Hồn thiên nhai đóa nở cháy đại ngàn

Vùng thủy tụ đã dừng chân hồ thỉ
Bước tang bồng Thái Tuế ngộ Văn Xương
Mái trắng hất tung gió ngầm Thiên Thọ

Vó Thiên Tài đạp sóng vượt Kình Dương

Anh cũng muốn bữa trai đàn Hỏa vượng
Dốc hồ lô uống cạn kết Bàng Tinh
Nghe nắng khát trên tầng tầng lá nhú
Vùng âm ba điểm sắc họa Thiên Hình

Em nào biết thẩm sâu miền Tử-Phủ
Nhánh Đào Hoa trổ bên mái Hồng Loan
Và có biết lề Thiên Không chiếu thủ
Sương khói nào nhuốm một độ quan san

Nơi Đế Vượng, Tướng Quân hầu Thiên Sứ
Mùa thiên di thắp lại nén Hỷ Thần
Sen hồng nở tịnh viên ngày Bát Tọa
Phượng Các chiều Liêm Phủ nép dừng chân

Anh sẽ hứng lá Đông này làm sớ
Tấu Thiên Đình chép lại cuốn Thiên Thư
Chùm Hoa Cái sơ sinh ngày quấn cổ
Vòng Nguyệt Đức soi lại buổi trăng mờ

Em có biết tít tắp miền Đức Hạnh
Chẳng cần chi Tam Hóa kết liên châu
Chỉ cần vậy một quãng đời Song Hỉ
Đủ trong ta Lương Nguyệt đến bạc đầu

Đừng lặn lội gánh cong đòn Mão Dậu
Thì sợ gì Địa Võng với Thiên La
Ta đột phá tanh banh vòng Tuần Triệt
Nhờ bao dung độ lượng của thật thà

Dù có đứng ở hai đầu Tý Ngọ
Thì vẫn chung dưới bóng cả đại ngàn
Em hát nốt lời bài ca Luân Vũ
Anh so dây chuốt lại một cung đàn....

06.11.13
 Thuận Nghĩa
@thuannghia

Tuesday, December 16, 2014

Miến Điện

Câu chuyện về hoàng tử Miến Điện Myingun lưu vong ở Saigon       
    
Trong các nước ở Đông Nam Á thì Miến Điện, Thái Lan, Việt nam và Indonesia là những nước lớn, có tài nguyên dồi dào và tiềm năng hơn các nước khác. Trước kia từ thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20, Miến Điện là nước sản xuất và xuất khẩu gạo lớn nhất ở Đông Nam Á. Ngày nay Miến Điện trên con đường mở cửa, cải tổ kinh tế và chính trị, và ta có thể nói là trong tương lai nước này có đầy triễn vọng trở thành một nước giàu có lớn mạnh sung túc ở Đông Nam Á như xưa kia.

Rất ít người Việt để ý đến một sự kiện ở Saigon, Việt Nam có liên quan đến lịch sử Miến Điện ở giai đoạn vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Đó là sự lưu vong của hoàng thái tử Myingun sau khi xảy ra chính biến trong triều đình Miến Điện ở Mandaday, miền bắc Miến Điện, vào năm 1866.

Ông hoàng này được Pháp coi là có thể dùng sau này để tranh dành ảnh hưởng với người Anh ở Thái Lan (4). Hoàng thái tử Myingun Min trốn khỏi Miến Điện sau cuộc khởi loạn ở Mandalay cùng với người em là Myingon Daing vào năm 1866, giết chú mình là Kanaung (tức em của vua cha Mindon Min) được coi là kế vì vua, và định giết hay bắt phế vua Mindon để mình lên ngôi. Kanaung bị đâm chết nhưng vua Mindon thoát được, kế hoạch khởi loạn của Myingun thất bại và sau đó Myingun bắt buộc phải trốn tránh chạy khỏi Mandalay.

Đây là thời điểm đen tối của lịch sử Miến Điện. Kanaung là người thông suốt thời cuộc và cùng với vua Mindon cố gắng cải tổ đất nước Miến Điện sau khi phần phía Nam đất nước trong đó có thủ đô Rangoon đã rơi vào tay người Anh. Kanaung đã gởi người đi học các nước phương Tây, canh tân hóa xã hội với chính sách ngoại giao mỡ rộng. Nhưng tiếc thay, công việc chưa hoàn tất thì ông đã bị cháu mình là Myingun giết mất. Kanaung lúc đó và cho đến ngày nay được người Miến rất quý trọng.

Không được người Anh, vì muốn giữ hòa khí với triều đình và dân Miến Điện, cho trú ở các vùng thuộc Anh ở nam Miến Điện, Myingun bị người Anh quản lý ở Benares, Ấn Độ. Năm 1882, Myingun thoát chạy khỏi Benares đến Chandernagore thuộc Pháp, Colombo và cuối cùng là thành phố Pondichery thuộc Pháp ở Ấn Độ vào năm 1884 và sống ở đó nhiều năm hy vọng đi đến vùng Shan ở Đông bắc Miến Điện tập hợp lực lượng lấy lại ngai vàng qua ngã Nam Kỳ, Siam. Nhưng sau khi Anh chiếm Mandalay phế vua cuối cùng Thibaw vào năm 1885 thì ông không còn đặt kỳ vọng đến vùng Shan khởi nghĩa, sau đó ông được phép đến Saigon.

Theo báo “Le Temps” thì Mingoon đến Saigon vào đầu tháng 11 năm 1889 (7). Ông sống lưu vong 32 năm ở Saigon cho đến khi ông mất.


Đọc hết bài : 
Nguyễn Đức Hiệp
@vanchuongviet

Monday, December 15, 2014

Ðồng Nai

Xóm dân chài bên cầu Ðồng Nai


 Khi đi trên quốc lộ 1 từ Sài Gòn qua cầu Ðồng Nai, đến ngã ba Vũng Tàu, nhìn cảnh chen chúc làm ăn của các tập đoàn tư bản nội địa và ngoại quốc bên các cảng sông cao ngất các thùng container... không ai nghĩ có nhánh sông gần cầu Ðồng Nai vẫn còn một xóm dân chài nghèo xơ xác.


Cảnh nhà một dân chài trên sông Ðồng Nai mỗi chiều về.



Theo đường vào nhà thờ Bến Gỗ, quẹo vào một con hẻm hẹp, qua ngôi chợ trưa lưa thưa người bán, chúng tôi càng vào sâu càng không nghĩ sẽ được ra một cửa sông thoáng mát, mà chỉ mong con hẻm chỉ vừa đủ hai chiếc xe gắn máy tránh nhau này sẽ không dài hơn nữa.
Vòng ra phía sau nhà thờ Bến Gỗ, tiếng nhạc đám ma của người vừa khuất là âm thanh duy nhất khuấy động buổi trưa vắng lặng.
Ði qua xóm nhà thu mua cá với con mương nước đen chảy rỉ rả, chúng tôi ra được bến ghe. Bến ghe này chỉ là một trong nhiều bến ghe của xóm chài, đưa người xuống những nhà chòi cất trên nền các thùng nhựa neo trên mặt sông và những bè cá cũ nát. Bến ghe này cũng là nơi đưa người dân từ bờ Bến Gỗ qua cù lao Năm C.


Bà rước cháu từ nhà trẻ về xóm chài. Ðược gởi con ở nhà trẻ trên bờ là mơ ước của nhiều dân chài nghèo Xóm Bắc.

Nắng trưa tháng 12 dịu mát, bên dưới bến ghe là hai chiếc xuồng cũ mục. Nhà nhiếp ảnh Trần Việt Ðức cất giọng hỏi người đàn bà đang ngồi trên xuồng, “Chị ơi, có thể đưa chúng tôi đi vài vòng xóm chài không?” Người đàn bà trả lời đang bận chờ người thân. Anh Trần Việt Ðức quay sang hỏi chàng trai ở trần, đang ngồi trên xuồng với một con chó. Chàng trai có vẻ ngại nhưng rồi anh gật đầu.
Chúng tôi xuống xuồng, chiếc xuồng cũ chở thêm người nên mạch nước từ be xuồng rỉ ra thành dòng. Chàng trai hỏi chúng tôi là nhà báo hay đoàn làm phim. Khi được biết là dân chụp ảnh tài tử, anh có vẻ yên tâm. Anh nói, “Thấy mấy chú có máy ảnh, tưởng người nhà nước đi chụp ảnh để giải tỏa xóm chài này.”
Chàng trai như mọi người dân ở nơi đây vẫn giữ thói quen chèo xuồng bằng hai chân như ông bà từ thời 1954 di cư vào Nam. Tên thường gọi của xóm chài này là Xóm Bắc. Cả Xóm Bắc này có khoảng vài trăm nóc nhà trên sông và trên bờ, gần như chỉ làm mỗi một nghề đánh bắt cá và nuôi cá bè.


Xuồng là phương tiện duy nhất đưa người bên Xóm Bắc qua cù lao Năm C.

Nghề nuôi cá bè ở đây khác với những làng cá bè ở miền Tây hay ở thượng nguồn sông Ðồng Nai vì không nuôi cá xuất khẩu, bè cá chỉ là nơi để rộng những loài cá sông mà họ đánh bắt được chờ có giá hay chờ cá lớn mà bán cho lái cá quanh các chợ nhỏ.
Một ngư dân trung niên cho biết. Mùa cá rộ quanh các khúc sông Ðồng Nai này vào tháng 5, còn quanh năm đều có đủ loại cá nước ngọt dù so với thời ông bà trước lượng cá không còn nhiều.
Chàng trai chèo xuồng nói, “Lúc này đang mùa cá cơm. Mấy chú muốn mua về ăn không?” Rồi anh giải thích cá cơm nước ngọt nhỏ nhưng thịt thơm ngon lắm. Vào mùa cá cơm, dân chài Xóm Bắc đi đánh lưới cá cơm vào lúc trời sập tối. Nếu trúng thì kiếm được vài trăm ngàn mỗi ngày, riêng những mùa còn lại trong năm thì vướng lưới con gì cũng bắt hết để có miếng ăn.


Người ngư phủ trẻ trên sông Ðồng Nai.

Chiếc xuồng cũ nát đưa chúng tôi quanh quanh các nhà chòi trên sông. Cảnh người nhà nghèo bám vào mặt nước để sống thì khắp Việt Nam nơi nào cũng giống nhau. Khi nói rằng đời người kiếm sống theo sông nước là đời tạm bợ, nhưng nhìn lại thì khoảng thời gian gọi là tạm bợ của họ đã kéo dài từ thế hệ này qua đến thế hệ khác.
Chàng trai chèo xuồng kể, “Nghề này bố mẹ cháu nối tiếp từ ông bà, mãi đến khi bố mất, nhà cháu mới có được hai anh chị lên bờ làm công ty, cháu học đến lớp ba thì nghỉ và theo mẹ làm nghề.” Chúng tôi hỏi, nếu chính quyền giải tỏa xóm chài thì anh định làm nghề gì. Anh cười nói, “Còn cá dưới sông thì giải tỏa thế nào được.”
Khi đi qua chỗ có một nhà bè làm nghề giữ trẻ. Nhà nhiếp ảnh Trần Việt Ðức cho biết, anh có nghe qua những trường hợp có gia đình neo đơn không người trông con nít nên nhốt con trong cái chuồng trên nhà bè mỗi khi đi đánh bắt cá. Anh chàng chèo xuồng nói, “Từ trước đến giờ ai cũng làm thế mà, nghèo, tiền đâu mà gởi con.”


Chỉ một nhánh sông hẹp Ðồng Nai mà có hơn trăm nóc nhà dân chài nghèo.

Chiều tắt nắng, anh chèo xuồng đưa chúng tôi quay lại bến ghe để kịp đi đánh lưới đêm. Khi chúng tôi lên bờ cũng là lúc mẹ anh chuẩn bị bước xuống ghe để hai mẹ con cùng đi đánh lưới. Bà mẹ mời chúng tôi đi cùng cho biết, rồi như bà đoán được chúng tôi sợ đi trên chiếc xuồng mục nát. Chỉ vào chiếc ghe to hơn có gắn máy đang neo gần đó bà nói, “Hôm khác các anh muốn đi cho biết thì đi trên chiếc ghe đó, không phải sợ.” Ðúng là chiếc ghe bà chỉ, có lớn hơn nhưng dù tiếng máy dầu nổ nghe giòn tai cũng có vẻ chấp vá, bấp bênh vẫn không khác chiếc xuồng là mấy.
Nhìn chiếc ghe của hai mẹ con xuôi dòng nhá nhem tối, phía xa là chóp đỉnh ngất ngưởng của các tòa cao ốc và ánh đèn điện cầu Ðồng Nai.
Ðâu ai có thể tiên đoán được rằng, liệu chàng trai chèo xuồng và những người con Xóm Bắc có tìm thấy bến bờ an cư, nghề nghiệp mới ổn định cho thế hệ con cháu tiếp theo của gia đình mình hay lại chạy giải tỏa mà tìm đến khúc sông khác, tiếp tục sống đời bập bềnh trên sông, đặt nguồn sống vào những loài cá nước ngọt đang dần cạn kiệt.

Trần Tiến Dũng

Sunday, December 14, 2014

Tiếng Việt

Về nguồn gốc tiếng Việt


Austroasitic recortado

Hai kiến giải chính về quan hệ tộc thuộc của tiếng Việt là hai người Pháp: H.Maspéro và A.G.Haudricourt. H.Maspéro, trong Etudessur la phonétique historique de la langue annamite (1), một công trình nghiên cứu nghiêm túc và sâu sắc, đã dè dặt cho rằng tiếng Việt có thể là một ngôn ngữ Thái còn Haudricourt, trong một bài viết ngắn nhan đề Laplace du vietnamien dans les langues austroasiatiques (2), thì cả quyết rằng nó là một ngôn ngữ Nam Á. Theo nhận xét của S.E.Jakhontov thì kiến giải của Maspéro hình như phổ biến hơn nhưng kiến giải cua Haudricourt lại được xem là thuyết phục hơn (3).Còn Hoàng Tuệ thì cho biết rằng “ luận điểm của Haudricourt(…)là một đóng góp hết sức quan trọng”, rằng “ hiện nay trong các sách sử học, dân tộc học và ngôn ngữ học xuất bản trên thế giớivà ở Việt Nam, các tác giả điều nhất trí trong quan niệm dựa trên luận điểm của Haudricourt, quan niệm cho tiếng Việt thuộc họ Nam Á, nhánh Mon-Khmer, chi Việt- Mường”(4).

Luận điểm căn bản trong kiến giải của Haudricourt là: chỉ có thể dựa vào từ vựng cơ bản để phân loại tiếng Việt về mặt phổ hệ mà thôi: “Cái đó tính chất quyết định, đó là từ vựng cơ bản”(5).Trong một bài khác, vì buộc lòng phải thừa nhận rằng nguồn gốc của thanh diệu trong tiếng Việt hoàn toàn “không chứng minh được điều gì chống lại quan hệ tộc thuộc( của nó) với tiếng Thái” (6),Haudricourt lại võ đoán kết luận “Vậy quan hệ tộc thuộc của tiếng Việt phải được truy tầm bằng từ vựng cơ bản”(7).Ở một chỗ khác nữa, khi đề cập đến các ngôn ngữ đơn lập có thanh điệu, ông cũng khẳng định: “Quan hệ tộc thuộc trong loại hình ngôn ngữ này chỉ có thể căn cứ trên từ vựng”(8). Luận điểm trên đây là một luận điểm sai lầm.

Từ vựng cơ bản là bộ phận từ vựng bao gồm những từ diễn đạt các khái niệm thông thường nhất hoặc cổ xưa nhất mà loài người đã có thể biết được, đồng thời cũng thường có tần số xuất hiện cao trong sư giao tiếp của cộng đồng. Do những đặc điểm này mà những từ đó vẫn được nhiều người- trong đó tất nhiên có Haudricourt- quan niệm là những đơn vị sẵn có trong các ngôn ngữ đồng tộc khi chúng tách ra khỏi nguồn gốc chung chứ không phải là kết quả của những sự vay mượn ở các ngôn ngữ khác tộc, cũng không phải là kết quả của những sự vay mượn lẫn nhau giữa các ngôn ngữ đồng tộc sau khi chúng đã tách ra khỏi ngôn ngữ riêng biệt và độc lập. Đây là một quan niệm không đúng.

S.E .Jackhontov đã lưu ý rằng “về nguyên tắc, bất cứ từ nào cũng có thể được vay mượn” (9). Nhưng sau đó, tác giả lại phát triển thêm rằng “ những từ liên quan đến văn hoá thường dễ được vay mượn hơn cả; những lĩnh vực khác của từ vựng ( ví dụ những tên gọi bộ phận cơ thể, hay trạng thái thời tiết) thì hầu như không có yếu tố vay mượn” (10). Đến đây thì chính Jakhontov đã nói sai, ít nhất cũng là sai đối với tiếng Việt. Ngôn ngữ này có rất nhiều từ chỉ bộ phận cơ thể bất nguồn ở tiếng Hán, từ đầu, ức, sọ-lô, hàm, họng, hạng, thân, eo yêu,vế-bễ, (cùi) chỏ, trửu, cho đến tim- tâm, gan- can, tỳ, phổi- phế, thận…, rồi gân-  cân, não, thịt-thoát, xương xoang v.v. Tiếng Khmer cũng vay mượn không ít từ chỉ bộ phận cơ thể của tiếng Sanskrit và tiếng Pali mà sau đây là chỉ là mấy trường hợp tiêu biểu: Khm.Kbal(đầu)apàla; Khm. Kuj (dương vật)

Những thí dụ trên đây trong tiếng Việt và tiếng Khmer đã góp phần khẳng định ý kiến của L. Hjelmslev: “Người ta không chỉ mượn một từ vì sự vật mà nó biểu hiện không có tên gọi trong ngôn ngữ đi mượn. Người ta vay mượn vì óc bắt chước, và những từ vay mượn thì phục tùng tất cả những sự thay đổi thất thường của thị hiếu. Người ta vay mượn vì cái từ của tiếng nước ngoài tao nhã hơn, hoặc ngộ nghĩnh hơn, hoặc vui tếu hơn, hoặc thú vị hơn và chỉ có tính võ đoán mới quyết định – không một sự tính toán nào dự kiến đươc nó- cái gì được xem là tao nhã, ngộ nghĩnh, vui tếu và thú vị”(11). Rõ ràng là sai lầm ý kiến cho rằng những từ thuộc từ vựng cơ bản không thể là những yếu tố vay mượn. Vậy không thể dựa vào từ vựng cơ bản để kết luận về phổ hệ của một ngôn ngữ. Đó là một điều dứt khoát. Liên quan đến vấn đề này, sau đây là ý kiến xác đáng và rành mạch của A.Meillet mà chính R.Jacobson cũng hoàn toàn tán thành nên đã dẫn lại trong bài viết của mình: “Người ta không bao giờ có thể thiết lập quan hệ tộc thuộc của các ngôn ngữ bằng sự khác biệt hoặc sự trùng hợp về từ vựng”(12).

Lấy từ vựng cơ bản làm nền tảng để xây dựng kiến giải của mình về phổ hệ của tiếng Việt, rõ ràng là Haudricourt đã làm một công việc phiêu lưu. Như lời cảnh báo của J.Vendryes, đây là “một phương thức nguy hiểm”(13). Huống chi phưng pháp so sánh của ông lại càng có nhiều  điểm hoàn toàn không ổn. Để phản bác Maspéro, Haudricourt đã đưa ra 12 từ chỉ bộ phận cơ thể của tiếng Việt: (trốc=đầu, tóc, mắt, tai, mũi, miệng, răng, lưỡi, cổ,môi, cằm, tay) để so sánh với những từ tương ứng trong 10 ngôn ngữ được xem là Nam Á sau đây: Bahnar, Khasi, Khmer, Khmu, Kuy, Mnong, Môn,Mường,Phong và Samrê. Công việc so sánh của ông đã bộc lộ những khuyết điểm sau đây về mặt phương pháp:

1.Tiếng Kuy là một ngôn ngữ hãy còn được biết đến quá ít. Theo lời P.Lévy, tác giả của bảng từ vựng mà chính Haudricourt đã sử dụng, thì đây là một ngôn ngữ riêng biệt của một sắc dân đã từng bị người Khmer thống trị(14). Vậy hoàn toàn có khả năng là các yếu tố nguyên thuỷ của nó đã dần dần bị thay thế bằng những yếu tố vay mượn của tiếng Khmer. Trong trường hợp này, những từ “tương ứng” của tiếng Kuy không thể có giá trị để so sánh va phổ hệ. Huống chi trong bảng từ vựng ít òi của Lévy người ta còn thấy lẫn lộn cả những từ Kuy gốc Sanskrit (hẳn là mượn qua tiếng Khmer) như tévde (trời, thần)Sk.phàla,…, thậm chí gốc Việt như dao (cây dao-d đọc như đ của tiếng Việt)

2.Tiếng Mường và tiếng Phong đã được khẳng định là những ngôn ngữ trong nhóm Việt- Mường. Bản thân chúng cũng cần được chứng minh là những ngôn ngữ Nam Á. Vậy đưa những từ của tiếng Mường và tiếng Phong vào bản so sánh để khẳng định nguồn gốc Nam Á của các từ Việt tương ứng là đã làm một việc làm hoàn toàn nghịch lý. Haudricourt đã làm chuyện nghịch lý ở nhiều chỗ. Trong một bài khác liên quan chặt chẽ đến bài đang xét vì cũng liên quan đến vấn đề phổ hệ của tiếng Việt, do không tìm được một cứ liệu nào của các ngôn ngữ Nam Á để chứng minh rằng thanh sắc trong từ bốn (quatre) của tiếng Việt là một hậu quả gây ra bởi sự tiêu vong của hiện tượng tắc thanh quản (occlusion glottale), Haudricourt đã giải quyết tuỳ tiện như sau: “Nhưng sự phối hợp không phải là không thể xảy ra vì người ta đã nhận thấy nó trong một ngôn ngữ Tạng- Miến là tiếng Lushai”(15).Ông quên rằng một sự chuyển biến ngữ âm rất có thể xảy ra ở một ngôn ngữ mà lại không hề hoặc không thể xảy ra ở những ngôn ngữ khác đồng tộc với nó. Nguyên âm [u]của tiếng Latin đã trở thành [ii] trong tiếng Pháp nhưng vẫn tiếp tục được phát âm là [u] cho đến nay trong tiếng Ý, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Bồ Đào Nha, và tiếng România (Ru-ma-ni), cũng là những ngôn ngữ Roman (languesromanes) như tiếng Pháp.Trong nội bộ các ngôn ngữ đồng tộc mà còn như thế, huống chi haudricourt lại lấy cứ liệu trong tiếng Lushai là một ngôn ngữ Tạng- Miến để chứng minh cho hiện tượng đoán già đoán non là đã xãy ra trong một ngôn ngữ Nam Á. Cách làm tuỳ tiện đó rất xa lạ với phương pháp so sánh nghiêm túc.

3/ Nhiều từ trong bảng so sánh của Haudricourt đã không lọt qua được một sụ thẩm định từ nguyên học chặt chẽ. Trốc, chẳng hạn, đã được ông xe là Nam Á, đối đầu với gốc Hán, bắt nguồn từ ghi bằng chữ mà âm Hán –Việt hiện đại là độc. Về ngữ nghĩa, chữ này đã được Mathews’Chinese- English Dictionary giảng là “the bones on the top of the head; a skull” và Hán –Việt tân từ điển của Nguyễn Quốc Hùng giảng là “xương đầu xương sọ”. Còn về ngữ âm thi tr đ là một cặp tương ứng mà người ta có nhan nhản những thí dụ. Hơn nữa, trốc độc thì cũng gần giống như trường hợp (Thiên) Trúc=(Thân) Độc, đều là những hình thức phiên âm từ tiếng Sanskrit Sindhu để chỉ nước Ấn Độ. Vậy trốc cũng là một từ Việt gốc Hán.

Cần nói rõ rằng Haudricourt đã mặc nhiên thừa nhận 92 từ Việt được xem là có gốc Môn- Khmer (Nam Á) do Maspéro đưa ra trong công trình năm 1912. Nhưng thực tế thì ít nhất 2\3 của số đó là những từ Việt gốc Hán trong khi không ít từ tương ứng của tiếng Khmer (mà Maspéro đưa ra) lại có gốc Sanskrit hoặc Pali. Một số khác là những từ Việt đã được tiếng Khmer vay mượn nhưng lại bị gáng cho một nguồn gốc Môn- Khmer. Số từ tiếng Việt được tạm xem là có nguồn gốc Nam Á rốt cuộc chỉ còn lại rất ít.

Những từ Nam Á ít ỏi đó có vị trí như thế nào trong từ vựng của tiếng Việt hiện đại? Đó là một cơ tằng (substrat). Mà cơ tằng thì chẳng can dự gì đến việc sắp xếp phổ hệ của một ngôn ngữ. Tiếng Pháp hiện đại có một cơ tằng gồm khoảng 60 từ Gaulois. Đây là tàn tích của tiếng Gaulois, một ngôn ngữ Celtic mà tổ tiên người Pháp đã nói cách đây từ 2000 năm trở về trước. Nhưng không có bất cứ nhà ngữ học so sánh nào lại nói rằng tiếng Pháp là một ngôn ngữ Celtic chỉ vì nó còn giữ lại được 60 từ Gaulois. Tất cả đều khẳng định rằng nó là một ngôn ngữ Roman, thoát thai từ tiếng Latin thông tục và đồng tộc với tiếng Ý, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Bồ Đào Nha và tiếng Rômania (Ru-ma-ni) cũng là những ngôn ngữ Roman như nó. Vậy cũng sẽ là hoàn toàn vô lí nếu cho rằng tiếng Việt là một ngôn ngữ Nam Á chỉ vì nó còn giữ lại được vài chục từ Nam Á ít ỏi.. Chỉ khi nào chính Haudricourt chấp nhận rằng tiếng Pháp là một ngôn ngữ Celtic thì tiếng Việt mới là một ngôn ngữ Nam Á mà thôi. Ra đời từ năm 1953, kiến giải của Haudricourt đã dăng quang trong Việt ngữ học Việt Nam và đã thống trị ngữ tộc học về tiếng Việt trong suốt bốn thập kỷ qua.

Vì kiến giải của Haudricourt bất ổn như thế cho nên cũng đã có người thử điều chỉnh nó. Phạm Đức Dương, chẳng hạn, đã dung hoà nó với thuyết của Maspéro mà cho rằng tiếng Việt là một ngôn ngữ “hoà hợp” có cơ tầng Nam Á và có cơ chế Đồng Thái (16). Chúng tôi sẵn sàng đồng ý với tác giả rằng tiếng Việt có thể có một cơ tằng Nam Á nếu nói về lịch sử của nó. Nhưng khi nói về phổ hệ thì cái cơ tằng đó lại chẳng có vai trò gì. Lịch sử của một ngôn ngữ và phổ hệ của nó là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau. Xin lại lấy tiếng Pháp làm thí dụ cho dễ thấy vấn đề. Khi viết về lịch sử của ngôn ngữ này, người ta luôn luôn nhắc đến cái cơ tằng của nó là tiếng Gaulois vì đây chính là tiếng nói của tổ tiên người Pháp về sau đã bị tiếng Latin thông tục thay thế. Nhưng khi viết về phổ hệ của nó, người ta chỉ nói rằng tiếng Pháp là một ngôn ngữ Roman thoát thai từ tiếng Latin thông tục. Chẳng có ai gán ghép nó vào Gaulois. Ngôn ngữ không phải là một thực thể sinh vật học cho nên không thể xét phổ hệ của nó theo kiểu sinh vật. Do đó, tiếng pháp cũng không phải là một ngôn ngữ “hoà hợp”, nghĩa là một thứ tiếng lai, có cơ tằng Gaulois và có cơ chế Roman. Chính Haudricourt cũng bác bỏ phát ngôn ngữ hoà hợp. Cách diễn đạt của Phạm Đức Dương, suy đến cùng, chẳng qua cũng chỉ là một cách thừa thận rằng tiếng Việt là một ngôn ngữ Thái.

Quả thật như thế, theo chúng tôi, cứ vào các dữ kiện được biết cho đến nay thì tiếng Việt là một ngôn ngữ Thái vì cấu trúc và cơ chế của nó là Thái như chính Phạm Đức Dương đã khẳng định. Cái bản sắc cùng với tính phổ hệ của một ngôn ngữ được bộc lộ không phải thông qua từ vựng mà thông qua cấu trúc và cơ chế của nó. Đây là một luận điểm thông thường và hoàn toàn xác đáng. Chính là xuất phát từ luận điểm này mà J.Vendryes đã viết: “Từ vựng có thể biến đổi, thậm chi từ đầu đến cuối mà ngôn ngữ không hề bị làm cho biến chất một cách có thể cảm nhận được trong cấu trúc ngữ âm hoặc ngữ pháp của nó” (17).


Còn Jacques Chaurand thì viết: “Một ngữ được đặc trưng bằng sự tập hợp của những nét căn bản về ngữ âm và về hình thái mà sự gắn bó trong nội bộ của một hệ thống là một sự bảo đảm để nó chống lại các cuộc đảo lộn có thể là sâu sắc và thô bạo” (18). Cuối cùng, E.Sapir thì viết: “Chúng ta không có quyền giả định rằng một ngôn ngữ có thể nhào nặn lại một ngôn ngữ khác một cách quá dễ dàng bằng ảnh hưởng hình thái học của nó” (19). Vì vậy không thể chấp nhận ý kiến của Phạm Đức Dương cho rằng cơ chế của một tiếng Việt là một cơ chế “mô phỏng” theo một ngôn ngữ Đồng Thái do kết quả của sự giao thoa trong quá trình tiếp xúc (20). Đó chỉ có thể là một cơ chế Thái tự thân nó mà thôi. Vậy, theo chúng tôi:

Tiếng Việt vốn là ngôn ngữ Môn – Khmer đã bị một ngôn ngữ Thái thai thế. Điều này phù hợp với giả thuyết của Vương Hoàng Tuyên cho rằng “trên đồng bằng Bắc – bộ, xưa kia là nơi cư trú của một giống người nói tiếng Môn – Khơ me thì có một sự di cư to lớn của một lớp người nói tiếng Thái ở Tây nam Trung – quốc tràn qua” (21). Chính ngôn ngữ Thái này đã thai thế cho ngôn ngữ Môn – Khmer kia để trở thành tiếng Việt ngày nay./.

Huệ Thiên

Chú thích
(1)   BEFEO, 1912, t.XII, nó, pp.1- 124.
(2)    BSLP, 1953, t,49, fasc.1, no 138, pp.122-8.
(3)X. Về sự phân loại các ngôn ngữ ở Đông Nam châu Á, ngôn ngữ, s.1, 1991, tr.74
(4) André-Georges Haudricourt, Kiến thức ngày nay, s.68, tr.4.
(5) Bđd, tr.125.
(6), (7) De I’origine des tons en Vietnamien, JA, 1954, t. CCXLII, fasc. 1, p.82.
(8) Comment reconstruire le chinois archaique, linguistics Today, New York, 1954, p.231.
(9), (10), Bđd, tr. 73.
(11) Le langage, trad. Par Michel Olsen, les Editions de Minuit, 1969, p.90.
(12) Sur la théorie des affinités phonologiques entre les langues, in N.S. Troubetzkoy, Principes de phonologie, trad, parJ. Cantineau, Paris, 1967, p.353.
(13) X. Lelangage, Paris, 1921, p.364.
(14) X. Recherches Préhistoriques dans la région de Mlu Prei (Cambodge), Hanoi, 1943, p.3.
(15) Như (6), (7), tr.81.
(16) X. Vấn đề proto – Việt Mường trong lịch sử Việt Nam và Đông Nam Á thời cổ đại, Những vấn đề ngôn ngữ học về các ngôn ngữ phương Đông, Hà Nội, 1986, tr.289.
(17) Sđd, tr. 360.
(18) Histoire de la langage, trad. Par S.M. Guillemin, Paris, 1953, p.192.
(20) Bđd, tr.289.
(21) Các dân tộc nguồn gốc Nam Á ở miền Bắc Việt – nam, Hà Nội, 1963, tr.193.

Saturday, December 13, 2014

thuannghiablog

Tiếng đàn piano

 
Video Paul Anka - Papa


Anh hẹn chị ra quán cà phê trước nhà ga chính của thành phố Bremen. Câu đầu tiên khi gặp anh, chị nói trong sự cáu gắt, ông lại bán xe rồi hay sao mà lại đi tàu lên đây.

Anh cúi đầu trả lời lý nhí trong sự hổ thẹn, ừ, bán rồi, vì cũng không có nhu cầu lắm. Chị sầm mặt xuống, ông lúc nào cũng vậy, suốt đời không thể ngóc đầu lên được, hẹn tôi ra đây có chuyện gì vậy?

Khó khăn lắm anh mới có thể nói với chị điều anh muốn nhờ cậy. Chị cũng khó khăn lắm mới có thể trả lời từ chối anh, nhưng mà gia đình tôi đang yên lành, nếu đưa con bé về e rằng sẽ chẳng còn được bình yên.

Anh năn nỉ, nhưng thật sự là anh rất bối rối, con bé đã đến tuổi dậy thì, anh là đàn ông, không thể gần gũi và dạy dỗ chu đáo cho nó được, anh chưa bao giờ cầu xin em điều gì, chỉ lần này thôi, chỉ nửa năm hay vài ba tháng cũng được, em là phụ nữ, em gần nó, em hướng dẫn và khuyên bảo nó trong một thời gian, để nó tập làm quen với cuộc sống của một thiếu nữ, sau đó anh lại đón nó về.

Chị thở dài, ông lúc nào cũng mang xui xẻo đến cho tôi, thôi được rồi, ông về đi, để tôi về bàn lại với chồng tôi đã, có gì tôi sẽ gọi điện thông báo cho ông sau. Anh nhìn chị với ánh mắt đầy hàm ơn. Anh đứng dậy, đầu cúi xuống như có lỗi tiễn chị ra xe rồi thở dài, lùi lũi bước vào nhà ga đáp tàu trở lại Hamburg.

Anh và chị trước kia là vợ chồng. Họ yêu nhau từ hồi còn học phổ thông. Anh đi lao động xuất khẩu ở Đông Đức. Chị theo học Đại học Sư phạm Hà Nội 1. Ngày bức tường Berlin sụp đổ, anh chạy sang phía Tây xin tị nạn. Chị tốt nghiệp Đại học và về làm giáo viên cấp 3 huyện Thái Thụy, Thái Bình. Họ vẫn liên lạc và chờ đợi nhau.

Khi đã có giấy tờ cư trú hợp lệ, anh về làm đám cưới với chị, rồi làm thủ tục đón chị sang Đức.

Vừa sang Đức, thấy bạn bè anh ai cũng thành đạt. Đa số ai cũng có nhà hàng, hay cửa tiệm buôn bán. Chỉ có anh là vẫn còn đi làm phụ bếp thuê cho người ta. Chị trách anh vô dụng. Anh không nói gì, chỉ hơi buồn vì chị không hiểu, để có đủ tiền bạc và điều kiện lo thủ tục cho chị sang được đây, anh đã vất vả tiết kiệm mấy năm trời mới được. Nên không dám mạo hiểm ra làm ăn.

“Đồ cù lần, đồ đàn ông vô dụng…”, đó là câu nói của miệng chị dành cho anh, sau khi anh và chị có bé Hương.

Bé Hương sinh thiếu tháng, phải nuôi lồng kính đến hơn nữa năm mới được về nhà.

 Khi bác sĩ thông báo cho vợ chồng anh biết bé Hương bị thiểu năng bẩm sinh. Giông tố bắt đầu thực sự nổi lên từ đó. Chị trách anh, đến một đứa con cũng không làm cho ra hồn, thì hỏi làm được gì chứ. Anh ngậm đắng nuốt cay nhận lỗi về mình và dồn hết tình thương cho đứa con gái xấu số.


Bé Hương được 3 tuổi, chị muốn ly dị với anh. Chị nói, ông buông tha cho tôi, sống với ông đời tôi coi như tàn. Anh đồng ý, vì anh biết chị nói đúng. Anh là người chậm chạp, không có chủ kiến và không có chí tiến thân, sống an phận thủ thường. Nếu cứ rằng buộc sẽ làm khổ chị.

Bé Hương 3 tuổi mà chưa biết nói. Chị cũng rất thương con, nhưng vì bận bịu làm ăn nên việc chăm sóc con bé hầu hết là do anh làm. Vì vậy mà con bé quấn quít bố hơn mẹ.

Biết vậy nên chị cũng rất yên tâm và nhẹ nhõm nhường quyền nuôi dưỡng con bé cho anh khi làm thủ tục ly hôn.

Ly dị được gần 1 năm thì chị tái giá. Chị sinh thêm một đứa con trai với người chồng mới.

Thành phố Bremen là thành phố nhỏ. Người Việt ở đó hầu như đều biết nhau. Chị cảm thấy khó chịu khi thỉnh thoảng bắt gặp cha con anh đi mua sắm trên phố. Chị gặp anh và nói với anh điều đó. Anh biết ý chị nên chuyển về Hamburg sinh sống.

Chị không phải là người vô tâm, nên thỉnh thoảng vẫn gửi tiền nuôi dưỡng con cho anh. Trong những dịp năm mới hay noel, chị cũng có quà riêng cho con bé, nhiều năm, nếu có thời gian, chị còn đến trực tiếp tặng quà cho con bé trước ngày lễ giáng sinh nữa.

Thấm thoát đó mà giờ đây con bé đã sắp trở thành một thiếu nữ. Tuy chị không biết cụ thể thế nào. Nhưng chị biết dù con bé lớn lên trong tật nguyền hẩm hiu, nhưng anh rất thương nó. Chị cũng biết con bé gặp vấn đề trong giao tiếp, phải đi học trường khuyết tật. Nhưng con bé rất ngoan. Anh cũng không phải vất vả vì nó nhiều. Nó bị bệnh thiểu năng, trí tuệ hạn chế, phát âm khó khăn. Tuy vậy nó vẫn biết tự chăm sóc mình trong sinh hoạt cá nhân. Thậm chí nó còn biết giúp anh một số công việc lặt vặt trong nhà.

Chồng chị đã đồng ý cho chị đón con bé về tạm sống với chị vài tháng, với điều kiện trong thời gian con bé về sống chung với vợ chồng chị, anh không được ghé thăm. Chị cũng muốn thế, vì chị cảm thấy hổ thẹn khi phải tiếp xúc với vẻ mặt đần đần dài dại của anh.

Vợ chồng chị đã mua nhà. Nhà rộng, nên con bé được ở riêng một phòng. Chị đã xin cho con bé theo học tạm thời ở một trường khuyết tật ở gần nhà. Con bé tự đi đến trường và tự về được.

Đi học về, nó cứ thui thủi một mình trong phòng. Đứa em trai cùng mẹ của nó, mẹ nó, và bố dượng nó rất ít khi quan tâm đến nó. Niềm vui duy nhất của nó là chờ điện thoại của bố. Nó phát âm không chuẩn và nói rất khó khăn, nên hầu như nó chỉ nghe bố nói chuyện. Bố dặn dò nó rất nhiều và thỉnh thoảng còn hát cho nó nghe.

Em trai nó học thêm Piano, nên nhà mẹ nó có cái đàn Piano rất đẹp để ở phòng khách. Có lần nó sờ và bấm bấm vài nốt. Mẹ mắng nó không được phá đàn của em. Nên từ đó nó không dám đụng đến nữa. Có hôm anh gọi điện thoại cho nó, nó nghèn nghẹn nói lỏm bỏm,.. đàn..đàn…klavia….con muốn… Anh thở dài và hát cho nó nghe.

Tháng đầu, hầu như ngày nào anh cũng gọi điện thoại cho nó. Rồi thưa dần, thưa dần. Cho đến một ngày anh không gọi cho nó nữa. Sau một tuần đăng đẳng không nghe anh gọi điện thoại. Con bé bỏ ăn và nằm bẹp ở nhà không đi học. Chị không biết gì cứ mắng nó dở chứng.

Một đêm, chị bỗng bật choàng dậy khi nghe tiếng đàn Piano vang lên. Chị chạy ra phòng khách, thấy con bé đang ngồi đánh đàn say sưa. Nó vừa đánh vừa hát thì thầm trong miệng. Chị cứ há hốc mồm ra kinh ngạc. Chị không thể tưởng tượng nổi là con bé chơi Piano điêu luyện như vậy. Chị chợt nhớ ra, đã có lần anh nói với chị, con bé ở trường khuyết tật có học đàn Piano, cô giáo khen con bé có năng khiếu. Lần đó chị tưởng anh kể chuyện lấy lòng chị nên chị không quan tâm.

Chị đến gần sau lưng nó, và lặng lẽ ngắm nhìn nó đánh đàn. Chị cúi xuống và lắng nghe con bé hát thầm thì cái gì.

Chị sởn cả da gà, khi chị nghe con bé hát rõ ràng từng tiếng một, mà lại là hát bằng tiếng Việt hẳn hoi: “…Nhớ những năm xa xưa ngày cha đã già với bao sầu lo…sống với cha êm như làn mây trắng…nhớ đến năm xưa còn bé, đêm đêm về cha hôn chúng con….với tháng năm nhanh tựa gió..ôi cha già đi cha biết không…”.

Chị vòng tay ra trước cổ nó và nhẹ níu, ôm nó vào lòng. Lần đầu tiên chị ôm nó âu yếm như vậy. Chị thấy tay mình âm ấm. Nó ngừng đàn đưa tay lên ôm riết tay mẹ vào lòng ngực. Nó khóc. Chị xoay vai nó lại, nhìn vào khuôn mặt đầm đìa nước mắt của nó hỏi, con sao vậy hả con yêu của mẹ. Nó ngước nhìn mẹ nó rất trìu mến rồi chìa cho mẹ nó một tờ giấy giấy khổ A4 đã gần như nhàu nát.

Chị cầm tờ giấy và chăm chú đọc, rồi thở hắt ra nhìn nó hỏi, con biết bố con bị ung thư lâu chưa. Nó chìa 4 ngón tay ra trước mặt mẹ. Chị hỏi, 4 tháng rồi hả. Nó gật đầu.

Chị nhìn chăm chăm vào tờ giấy, và từ từ ngồi thụp xuống nền nhà, rũ rượi thở dài.

Con bé hốt hoảng đến bên mẹ, ôm mẹ vào lòng, vuốt mặt mẹ, rồi vừa ấp úng nói vừa ra hiệu cho mẹ. Đại ý là nó diễn đạt rằng: -” Bố lên ở trên Thiên Đường rồi, mẹ yên tâm, con đã xin vào nội trú ở trường dưới Hamburg, ngày mai con sẽ về dưới đó, con không ở lại đây lâu để làm phiền mẹ và em đâu, con về ở tạm đây là vì bố muốn thế, bố muốn mình ra được nhẹ nhàng và yên tâm là có mẹ ở bên con..”

Chị cũng ôm nó vào lòng, vỗ vỗ vào vai nó và nói, con gái ngoan của mẹ, ngày mai nếu mẹ sắp xếp được công việc, mẹ sẽ đưa con về Hamburg….

Tôi nghe người ta kể chuyện lại chuyện đó, khi đi dự một cuộc biểu diễn nghệ thuật của học sinh khuyết tật và khiếm thị.

Khi thấy em gái đệm đàn piano cho dàn đồng ca, cứ khăng khăng đòi phải đàn và hát bài hát “Người Cha Yêu Dấu” bằng tiếng Việt trước, sau đó mới chịu đệm đàn cho dàn đồng ca tiếng Đức. Quá kinh ngạc nên tôi cứ gạn hỏi mãi người trong ban tổ chức. Cuối cùng họ đã kể cho tôi nghe câu chuyện như vậy.

Thuận Nghĩa