Wednesday, July 30, 2014

NVHN

San Francisco:
Biểu tình chống Trung cộng và Việt cộng ngày 19-7-2014


 

Tuesday, July 29, 2014

Trần Đức Thảo

Trần Đức Thảo Và
 Cuốn Sách Mang Xuống Tuyền Đài Chưa In


2014 JULY 23 tranducthao.jpg 300
Ngày 5/6/1946, trong buổi chiêu đãi “Phái bộ Hồ Chí Minh” vừa tới Paris để điều đình với Pháp, Trần Đức Thảo thân mật vồn vã chạy tới nắm tay ông Hồ một cách nồng nhiệt và nói : “ Tôi rất hân hạnh được gặp Cụ Chủ Tịch” và ông Hồ cũng vui vẻ đáp : “Chào chú Thảo”.  Nghe vậy, Thảo rất cảm động, nghĩ rằng ông Hồ đã thân mật coi mình như đứa em trong gia đình.

Cuối bữa ăn, ông Hồ kêu gọi Việt kiều về nước tham gia kháng chiến. Thảo hăng hái xin được về ngay để phục vụ cách mạng và quê hương và khoe với ông Hồ rằng : “Tôi đã bỏ công nghiên cứu về chũ nghĩa Marx và cuộc Cách Mạng tháng 10 ở Nga và tôi rất mong được về nước cùng Cụ xây dựng thành công một mô hình cách mạng tốt đẹp cho quê hương ta”. Nghe Thảo nói ông Hồ chỉ mỉm cười nhạt. Tới lúc lần lượt bắt tay từ biệt mọi người thì ông Hồ bắt tay Thảo và nói : “Còn chú Thảo thì cách mạng chả cần tới chú lúc này đâu. Chú cứ ở Paris thì có lợi cho cách mạng và cho chú hơn”.

Bị từ chối như vậy, Trần Đức Thảo thấy bị chạm tự ái và cương quyết vận động với Đảng Cộng Sản Pháp để được về nước. Qua Đảng Cộng Sản Pháp có cả sự giúp đỡ của Đảng Cộng Sản Liên Xô nữa, cuối cùng Thảo được về nước năm 1951 qua ngà Liên Xô. Tuy nhiên khi về tới Việt Nam thì Trần Đức Thảo lại bị ông Hồ và các đồng chí trong Đảng nghi là gián điệp do thực dân Pháp muốn cài vào hàng ngũ cách mạng.

Ngay từ buổi ban đầu đó Thảo bị đối xử như một “người có vấn đề” mặc dù ông không bị cộng sản triệt tiêu bằng bạo lực. Cũng như luật sư tiến sĩ Nguyễn Mạnh Tường, triết gia thạc sĩ Trần Đức Thảo bị cộng sản cô lập và và gạt ra bên lề xã hội, bắt sống một cuộc sống vô gia cư vô địa sản trong suốt 40 năm liên tục.

Năm 1992 ông Thảo được chính quyền Hà Nội cho trở lại Paris bằng chiếc vé máy bay một chiều và cho trú ngụ tại nhà khách sứ quán, số 2 đường Le Verrier, quân 5 để tiện bề theo dõi. Lạc lõng giữa một thành phố đối với ông đã trở thành xa lạ., may sao ông làm quen được với nhà văn Tri Vũ- Phan Ngọc Khuê và giáo sư Canh, và họ trở nên thân thiết. Mối giao hảo này ông giữ được cho đến ngày ông mất vào tháng tư năm 1993.

Vào những ngày thứ bảy hoặc chủ nhật rảnh rỗi, tại những quán cà phê ấm cúng và tĩnh lặng của thủ đô nước Pháp, họ họp mặt và có đủ thì giờ để trao đổi với nhau về những chuyện liên quan đến Việt Nam. Trần Đức Thảo thổ lộ là ông đang viết một cuốn sách về đất nước và chế độ, nhưng tác phẫm chưa hoàn tất thì ông đã lìa đời. Rất may nhờ những băng ghi âm còn giữ lại, nhà văn Tri Vũ-Phan Ngọc Khuê đã soạn và viết ra một công trình lưu niệm mang tên : “Trần Đức Thảo : Những Lời Trăn Trối”.

Công trình lưu niệm nói trên là một tài liệu rất quý báu cho lịch sử nước nhà. Hôm nay, những chích đoạn sau đây, lọc ra từ tài liệu quý hiếm đó có tham vọng mô tả được phần nào nội dung cuốn sách không bao giờ xuất bàn của triết gia Trần Đức Thảo. Đọc những chich đoạn tiếp theo, quý độc giả hãy coi như đang nghe Trân Đức Thảo diễn thuyết trên những diễn đàn quen thuộc ở ngoài đời.


Nội dung cuốn sách không bao giờ xuất bản



Trần đức Thảo nói (trích đoạn) : “Tôi sẽ xây dựng lâu đài bằng một cuốn sách. Marx cũng đã xây dựng một lâu đài như vậy, chỉ tiếc là có nhiều người khi từ lâu đài của Marx bước ra thì họ đã trở thành ác qủy. Cuốn sách của tôi là một món nợ mà tôi phải trả cho triết học, cho nhân loại và cho dân tộc. Tôi sẽ đặt nặng những vấn đề nhân bản, công lý và dân chủ bằng những cơ chế ưu tiên kiểm soát quyền lực để những ai từ đó đi ra thì sẽ không trở thành ác qủy.

Ác qủy ấy là ai ? Là gì ? Ác qủy ấy là đấu tranh giai cấp, là thứ cuồng tín của bạo lực và hận thù, là những khái niệm sai trái, độc ác trong đầu óc con người, thúc đẩy con người lao vào đam mê tìm thắng lợi bằng mọi thủ đoạn của tội ác để củng cố chế độ độc tài độc đảng. Những vinh quang của độc tài, độc đảng ấy đều chỉ là phù phiếm.

Chính trị và chiến tranh cách mạng là cơ hội thao túng của qủy. Qủy quậy trong đầu những người nắm quyền lực; qủy lộng hành vì không có cơ chế nào kiểm soát được nó. Bi kịch của chúng ta là qủy đã tạo ra niềm tin tất thắng khi nó tận dụng bạo lực và hận thù. Chính niềm tin tất thắng ấy đã đầy đọa con người và xóa đi tinh thần nhân bản trong chính sách.

Có lúc phải mở chiến tranh như để giành độc lập là đúng. Nhưng dùng con đường chiến tranh cách mạng một cách trường kỳ vô hạn để bành trướng chủ nghĩa, mưu tìm thế độc tôn cho ý thức hệ, cho đảng nắm độc quyền yêu nước, là sai. Là sai, vì đó là con đường của thảm họa và tội ác.

Những nhà lãnh đạo tài giỏi rút cuộc đều là những kẻ làm hỏng lịch sử. Những sự nghiệp dù là vinh quang thì cũng chỉ nhất thời, và di sản lâu dài của sự nghiệp ấy thì chỉ làm khổ dân. Sự nghiệp của Napoléon, của Hitler, của Stalin, của Mao Trạch Đông, của Hồ Chí Minh…trong thực chất chỉ là những sự nghiệp mang lại muôn vàn đau khổ cho dân, dù họ đã tạo ra những giờ phút vinh quang huy hoàng thoáng qua như tia chớp.

Di sản của Hồ Chí Minh để lại cho dân tộc Vịệt Nam là một di sản phong kiến kiểu mới, một đảng độc tài tham nhũng vô phương cứu chữa. Vậy mà những người cộng sản Việt Nam vẫn cứ có thái độ kiêu binh tự đắc, tưởng mình là thần thánh, là trí tuệ, là anh hùng. Đạo đức không phải là vấn đề được đặt ra trong chính trường. Nhưng những người lãnh đạo cộng sản ít học, vì không hiểu, cứ muốn gượng ép dạy dân về thứ “đạo đức Hồ Chí Minh”. Từ kinh nghiệm cực kỳ cơ hội của thời kỳ cộng sản, người dân rút ra bài học rằng muốn sống, muốn thành công như Bác Hồ thì phải sống muôn mặt, nghía là vừa nói đạo đức vừa dùng thủ đoạn gian xảo để thành đạt. Đó là lối “đạo đức thực tiễn” của cách mạng trong chế độ xã hội chủ nghĩa theo định hướng kinh tế thị trường.

Đẩy mạnh lý luận cho tới tận cùng của trải nghiệm càng thấy rõ Hồ Chí Minh đã để lại cho dân tộc ba chọn lựa với những hậu quả vô cùng trầm trọng. Đó là :
1/ chọn chủ nghĩa Mác Lê để xây dựng chế độ;
2/ chọn chiến tranh và xé bỏ hiệp định hòa bỉnh để bành trướng xã hội chủ nghĩa và thống nhất đất nước;
3/ chọn Mao Trạch Đông và Trung Cộng làm đồng minh đồng chí.
Và như thế là xã hội sẽ loạn. Bởi cho tới nay, tuy tổ quốc đã sạch bóng quân thù nhưng cái nếp dùng thủ đoạn gian xảo độc ác vẫn tồn tại trong sinh hoạt của xã hội. Nhà cầm quyền vẫn dùng thủ đoạn gian xảo trí trá để tiếp túc hành hạ, đàn áp con dân vì bất đồng chính kiến. Càng sống lâu trong thứ hòa bình nuôi dưỡng căm thù và bạo lực như thế Đảng càng bị suy yếu đi, càng bị dân ghét bỏ. Còn lâu mới rũ bỏ được nếp sống thủ đoạn mà những người cộng sản đã tích cực triển khai trong chiến tranh.

Công việc của tôi phải là công việc của trí tụê, không thể dùng thủ đoạn mưu trí. Tôi không đi tìm chiến thắng, tôi đi tìm con đường đưa tới gần sự thật và công lý. Đạt tới sự thật và công lý mới là thắng lợi bền vững.

Ở nước ta, tình hình thù hận cho tới nay vẫn còn phức tạp và nặng nề lắm. Nhiều người cộng sản vẫn còn tin rằng họ chỉ có thể tồn tại nếu biết nhận diện kẻ thù. Nếu làm được như vậy, họ tin rằng kẻ thù nào họ cũng đánh thắng, nhưng họ không biết rằng có một thứ kẻ thù họ không bao giờ thắng nổi. Kẻ thù đó là tâm thức tự giam minh trong vòng thù hận, lúc nào cũng để cho con qủy thù hận ngự trị trong đầu. Ta có thể lấy trường hợp sau đây vừa làm thí du, vừa làm bài học.

Hoa Kỳ coi ý thức hệ cộng sản là kẻ thù. Nhưng Hoa Kỳ đã biết ngưng hành động tàn phá của chiến tranh đúng lúc. Dù còn dư sức mạnh để chiến thắng, nhưng Hoa Kỳ đã không tìm thắng lợi bằng cách tận diệt chế độ cộng sản ở Việt Nam. Hoa Kỳ đổi chiến lược là sẽ tìm chiến thắng trong hòa bình, khi VIệt Nam bước tới giai đoạn kiệt quệ về kinh tế. Lúc đó Hoa Kỳ sẽ ép Việt Nam phải mở cửa mời Mỹ trở lại. Trí tụê khác với mưu trí là ở chỗ đó.

Trong nước hiện nay người ta vẫn tiếp tục gây oán nuôi thù và kể lể công lao chiến thắng. Kẻ nọ, người kia vẫn tiếp tục nhìn nhau như quốc gia và cộng sản. Còn kẻ thù vô cùng tham lam và độc ác đứng ngay trước mắt thì không ai nhìn thấy.

Trong chính quyền, đặc biệt là nhóm “công an”, vẫn dùng thủ đoạn chụp mũ vu oan để gây thêm kẻ thù trong dân chúng. Thù hận là do đó. Tội ác là do đó. Tình trạng này càng này càng bế tắc. Làm sao gỡ bỏ được gông cùm của sự chia rẽ, chia cắt. Đó là một thử thách cực kỳ nan giải. Tình trạng thực tại của đất nước đã mở tâm mở trí cho tôi để tôi biết phân biệt đâu là trí tụê, đâu là mưu trí. Thực tại đã định hướng cho tôi trở thành một người biết tôn trọng sự thật. Những gì tôi nói ra, viết ra chỉ là tiếng nói của lương tri.


Đánh giá lại tư tưởng của Marx



Trong cuốn sách tôi thẳng thắn đánh gía lại tư tưởng của Marx khi ông soạn ra phương pháp cách mạng “Đấu Tranh Giai Cấp”, khi ông dùng hận thù giai cấp để đánh gục tư bản và xây dựng một thế giời đại đồng không có giai cấp bóc lột.

Với những kinh nghiệm lịch sử tôi đã trải qua và những di sản thảm khốc đã được chứng kiến, tôi đã giải mã Marx, Lenin. Mao, Hồ… để chỉ ra rằng ý thức cách mạng đã sai từ gốc, nghĩa là từ Marx.

Tôi đã nói rõ cuộc Cách Mạng tháng 10 của Liên Xô đã dựng lên môt hệ thống chính trị chuyên quyền, đàn áp, giam hãm, kìm kẹp con người. Hệ thống chính trị ấy lại còn bóc lột giai cấp lao động gấp bội phần so với sự bóc lột của giai cấp tư bản. Và quyền lực chuyên chính trong hệ thống chính trị đó không cho phép công nông phản đối sự bóc lột ấy.

Các mô hình thế giới đại đồng của Marx chưa hề thấy ở đâu trong lịch sử. Nó chỉ là một ảo tưởng, một mong ước sẽ có trong tương lai. Marx đã mang cái tương lai ảo ấy, đặt nó trước hiện tại để dùng nó như một nền tảng lý luận siêu hình. Thật đúng là thứ biện chứng không có một chút gì là duy vật sử quan nữa.
Lấy lý thuyết hận thù giai cấp làm động lực cách mạng thì không cần lý luận sâu xa, chỉ cần nghe qua, bất cứ người dân cùng khổ nào cũng thấy là đúng. Để rồi họ trở thành cuồng tín đến mức sùng bái ý thức hệ đó như một thánh kinh, một tôn giáo, và sẵn sàng hy sinh cho nó, vì nó.

Thế nhưng ngày nay thì ai cũng đã thấy kết quả tồi tệ nó mang lại. Kết quả đó là trong công cuộc đấu tranh giai cấp con người không hề được giai phóng. Đau đớn hơn hết là con người lao động vẫn còn bị bóc lột. Thành phần công nông vẫn là thành phần bị thiệt thòi nhất. Và cuộc cách mạng “long trời lở đất” của cộng sản đã lộ ra cái bản chất vừa ngu tín vừa cuồng tín.

Trong thực tại của xã hội chủ nghĩa mới vẫn còn giai cấp bóc lột. Đó là giai cấp “tư bản đỏ”, phát sinh từ tinh thần vô sản vùng lên đấu tranh cướp chính quyền. Đồng thời nó cũng trở thành một “nhà nước chuyên chính”, tham lam sở hữu toàn bộ đất đai, toàn bộ tư liệu sản xuất, toàn bộ guồng máy quản lý xã hội, để độc quyền lũng đọan nền kinh tế quốc gia.


Giai cấp “tư bản đỏ” tự do chia chác tài sản tập thể của xã hội cho gia đình, họ hàng, đồng chí, đảng viên bằng chữ ký của quyền lực trong tay họ. Và Marx không ngờ rằng giai cấp “tư bản đỏ” lại ra đời ngay trong xã hội xã hội chủ nghĩa như thế.

Trong chế độ vô sản này có một ông chủ lớn nhất, sở hữu tất cả từ vật chất đến tinh hần. Đó là Đảng Cộng Sản. Đảng đứng trên hết mọi quyền lực, trên cả công lý. Đảng tự tuyên xưng Đảng lả “nhân dân”. Chống lại Đảng là chống lại “nhân dân”. Hai từ “nhân dân” là nhãn hiệu độc quyền của nhà nước cộng sản. Đó là một hiện tượng kinh khủng mà Marx không thể tiên liệu. Chính Marx đã là thủ phạm gây ra mọi sai lầm và tội ác.

Ngày nay các lãnh tụ cộng sản thật ra là những nhà đại tư sản. Họ dẫm lên chủ nghĩa tập thể để sống, nhưng họ lại bắt dân tôn thờ chủ nghĩa ấy. Phát động hận thù giai cấp là đẩy lùi con người về với bản năng muông thú. Lý thuyết “đấu tranh giai cấp” ấy thực tế là một sự phản tiến bộ, phản văn minh, phản văn hóa.

Qua hiểu biết về vận động của “sự kiện thời gian hóa” ( mouvement de la temporisation ) tôi sẽ sọan ra một cuốn sách để cho thấy con người và xã hội đã biến thái tồi tệ như thế nào trong ý thức đấu tranh giai cấp.

Sự thực ở nước ta ngày nay, người ta không phải đang áp dụng chính sách “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” mà là đang thi hành một thứ “xã hội chủ nghĩa theo định hướng kinh tế thị trường”. Đây là một thứ tư bản mới rất tàn nhẫn, nhưng nó vẫn ở trong lý luận của chủ nghĩa xã hội.

Ở Mỹ không có thứ tư bản chủ nghĩa mới man rợ này. Vì ở đó dân có quyền của dân. Dân được phép phê phán, thay đổi đảng cai trị bằng lá phiếu. Còn ở Việt Nam thì lá phiếu chỉ là trò đùa dân chủ của Đảng Cộng Sản để tô đẹp bề ngoài cho chế độ. Về mặt kinh tế, sự đứng dậy ngoạn mục của Trung Quốc và Việt Nam cũng là do việc thành phần tư bản, tư sản đỏ vùng lên cấu kết với tư bản man rợ nước ngoài để tung hoành. Vì thế nó đã phát triển rất nhanh, rất ngoạn mục, nhưng cũng vô cùng tại hại.

Chân lý phát triển ở Trung Quốc và Việt Nam ngày nay là sự phát triển của chủ nghĩa tư bản mà người dân lao động phải trả gía : thợ thuyền bị bóc lột với đồng lương rẻ mạt, nông dân bị bóc lột với hành động cướp đất đuổi nhà. Nhà nước “tư bản đỏ” bóc lột bằng cách tận thu lợi nhuận cho chính mình mà không lo gì cho đời sống khổ cực của đám dân nghèo ở nông thôn hoặc ở vùng sâu, vùng xa.

Sự sai lầm của Marx là dẹp bỏ giai cấp mà vẫn còn giai cấp. Dẹp bỏ giai cấp bóc lột này thì lại mọc ra thứ giai cấp khác tàn nhẫn hơn, kinh khủng hơn bao giờ hết. Sự bùng phát đó của “tư bản đỏ” là một tội hình của Đảng, nhưng Đảng thì bất trị, vì không có một cơ chế nào hoặc một đạo luật nào trừng trị được Đảng. Đó là cái gốc của xã hội chủ nghĩa, cái ý thức thô bạo của đấu tranh giai cấp.

Cuốn sách của tôi mới chỉ giải quyết xong vấn đề tư tưởng. Theo tôi thì vấn đề cơ bản và lớn nhất hiện nay là phải biết thay thế triệt để cái chế độ hiện hữu. Bởi những cái cũ đó đều mang trong nó bản chất sai lầm, dối trá, gian xảo, giấu giếm. Những tội lỗi đó đều là những tội ác của “đấu tranh giai cấp” mà Marx đã đề ra và phổ biến.

Cuốn sách này là món nợ tôi phải trả cho triết học, cho dân tộc. Tôi phải gấp rút hoàn thành cuốn sách này. Có lẽ đây là cơ hội duy nhất và cuối cùng để tôi chuộc tội trước moi người. Không làm được việc này thì chết cũng không thề yên nghỉ”.
* * *

Tin triết gia Trần Đức Thảo chọn tự do và cái chết đột ngột



Đầu tháng 4/1993, tin triết gia Trần Đức Thảo chuẩn bị họp báo để chính thức tuyên bố chọn tự do, được loan truyền khắp Paris, thủ đô nước Pháp. Nghe tin này nhà văn Trí Vũ-Phan Ngọc Khuê gọi điện thoại thông báo cho một số bạn bè thân hữu. Một lát sau một người bạn gọi lại : “Này ông ơi ! Tin ấy làm cho tôi suy nghĩ và đâm lo cho ông ta. Nếu ông thân với Trần Đức Thảo thì bảo ông ta “zọt” ngay cho lẹ. Nguy lắm đấy ! Phải thúc ông ta ra thoát nơi ấy ngay đi kẻo quá trễ mà nguy đến tính mạng đấy. Với những con người của chế độ ấy thì không thể coi thường”. Phan Ngọc Khuê trả lời : “Không đến nỗi như vậy đâu. Nhưng mà tôi sẽ cố gắng tìm ông ta để nói rõ sự lo lắng của anh”.

Phan Ngọc Khuê không tin, nhưng mối lo lắng của người bạn ông đã trở thành sự thật. Tối hôm 23/4/1993 tại nhà khách của sứ quán Việt Nam, số 2 Le Verrier, quận 5, triết gia Trần Đức Thảo bỗng nhiên thượng thổ hạ tả như bị trúng độc. Bác sĩ cấp cứu đưa ông vào bệnh viên đa khoa Les Broussais. Ông nằm bất tỉnh, ngủ li bì.

Đến khoảng 5 giờ 30 sáng ngày 24/4/1993, bác sĩ trực phòng hồi sinh của bệnh viện ghi nhận bệnh nhân Trần Đức Thảo đã trút hơi thở cuối cùng và bệnh viện đang làm thủ tục để đưa người quá cố xuống nhà xác.

Thế là “cuốn sách” ấp ủ suốt cả một đời người sẽ không bao giờ được xuất bản. Triết gia Trần Đức Thảo phải ôm xuống tuyền đài một mối hận không bao giờ tiêu tan được

Nguyễn Cao Quyền
Tháng 7 năm 2014

Sunday, July 27, 2014

Trần Ðức Thảo

Chuyện vui về
triết gia Trần Đức Thảo (1917 -1993)


Anh Cao Xuân Hạo, nhà ngôn ngữ học, bạn tôi từ mấy chục năm nay. Anh vừa là học trò, vừa là hàng xóm của triết gia Trần Đức Thảo, trước ở ngõ Hàng Chuối và sau này ở khu tập thể Kim Liên.

Anh kể:

Triết gia Trần Ðức Thảo
- Mình đang ngồi dịch sách bỗng ngửi thấy mùi cháy khét. Nhìn sang buồng thầy Thảo, thấy khói tuôn ra các ngách cửa. Mình hốt hoảng xô cửa vào. Cả gian buồng mờ mịt khói. Lạ lùng nhất là thầy Thảo đang đứng bên cửa sổ, giữa đám khói, hai tay vung vẩy, miệng lẩm bẩm độc thoại, như đang trình bày một vấn đề gì đó với cả đám đông vô hình trước mặt. Mình gọi giật: "Anh Thảo! Anh Thảo! Buồng anh cái gì cháy thế?". Anh Thảo giật mình vẻ ngơ ngác như vừa bị đánh thức khỏi cơn mê ngủ: "Cháy à? Cái gì cháy; ở đâu nhỉ? Ờ… ờ… khói ở đâu mà nhiều thế?". "Thì khói ngay trong buồng anh chứ đâu". Mình xông vào giữa đám khói, tìm quanh gian buồng. Một lúc mới phát hiện ra cái bếp dầu nằm khuất sau tủ sách, trên bếp một cái xoong nhôm bị nung đỏ rực. Té ra thầy nấu cơm, cơm cạn, quên cả đậy vung, quên cả tắt bếp. Xoong cơm nấu một bữa ăn cả ngày, cháy thành than và đang bốc mùi mù khét lẹt. Phải vất vả lắm mình mới tắt được cái bếp dầu nóng rẫy, và bưng được cái xoong than cơm ra khỏi buồng. Mình không bưng thì thầy có thể dùng tay không mà bê cái xoong… "Anh đang làm gì mà mải mê thế?". Mình hỏi. Thầy gỡ cặp kính ra khỏi mắt, lau lau vào vạt áo, nói: "Mình đang chú giải một chương hết sức lý thú và quan trọng trong toàn bộ trước tác của Hê-ghen…". Rồi thầy ngồi luôn vào bàn viết… như không còn nhớ gì đốn vụ hỏa hoạn chết người suýt nữa xáy ra.

Thầy ở tầng gác ba. Các gian buồng ở khu tập thể được thiết kế rất giống nhau. Một buổi trưa thầy đi chợ về, tay xách cái làn đựng mớ rau muống, mấy bìa đậu phụ, chai nước mắm… Mới trèo lên đến tầng hai, thấy gian buồng cạnh cầu thang cửa khép hờ, thầy đẩy cửa bước vào; cửa buồng của thầy cũng thường khép hờ như vậy.

Người đãng trí thì thi thoáng cũng có thể vào nhầm buồng. Nhưng vừa bước vào họ đã nhận ra ngay. Thầy Thảo thì không. Mặc dầu vật dụng trong buồng này sang trọng gấp mười vật dụng trong buồng của thầy. Riêng cái giường của thầy, hẹp mà trải chiếc chiếu mốc meo. Còn buồng này giường rộng gấp đôi, trải vải hoa sặc sỡ. Thầy thản nhiên để cái làn xuống nhà, nằm lăn ra giường, mắt lơ đãng nhìn lên trần nhà, và thượng cả hai chân lấm bụi lên vải hoa. Chị chủ nhà quét tước ngoài hành lang, bước vào, trố mắt nhìn: "Anh Thảo vào chơi lúc nào mà em không để ý?". Thầy hơi ngẩng đầu lên, nhìn chị chủ nhà, mặt nhăn lại, nói: "Xin lỗi chị, tôi vừa đi về hơi mệt. Có gì cần trao đổi, mời chị đến chiều…". "Nhưng đây là phòng nhà em kia mà?". Thầy hốt hoảng ngồi dậy, nhìn quanh buồng, vẻ ngơ ngác: "Ừ nhỉ, chết thật! Đúng là tôi nhầm… Thành thật xin lỗi chị…".

"Một hôm, thầy gọi mình sang - Hạo kể - Tôi đọc em nghe cái này, rồi em góp ý kiến xem, tôi viết thế đã được chưa"… Mình chuẩn bị để nghe một thiên khảo luận triết học.

Nhưng té ra là một bức thư gửi Uỷ ban nhân dân khu phố và ban lãnh đạo khối phố. Thư được viết với văn phong chuẩn mực, chính xác của một thiên bút ký triết học. Nội dung tóm tắt của bức thư như sau: "Sau khi bố tôi mất, trong khu phố có dư luận Trần Đức Thảo đối xử với bố không tốt, bố ốm không thuốc men; chăm sóc không chu đáo nên bệnh tình ngày càng trầm trọng… Tôi xin thanh minh là dư luận đó không đúng. Tôi đã nuôi dưỡng bố tôi rất tận tình, lúc bố tôi ốm, tôi lo chạy chữa thuốc men đầy đủ, mặc dầu hoàn cảnh kinh tế rất eo hẹp. Nếu cần thiết, Uỷ ban cho người đến điều tra các hộ hàng xóm để xác minh ý kiến trình bày của tôi v.v…". Mình ngồi ngẩn ra, nhìn thầy và tự hỏi: "Không biết thầy đã điên chưa đây?". Mình hỏi: "Nhưng việc này cần thiết gì mà thầy phải mất công đến như vậy?". Thầy nhìn mình, mắt chớp chớp sau cặp kính trắng, có vẻ lấy làm lạ sao cậu học trò mình lại đặt ra một câu hỏi ngu ngốc thế? Thầy cẩn thận gấp bức thư đút vào phong bì, nói: "Việc này theo tôi rất cần thiết. Để chính quyền người ta khỏi hiểu nhầm đạo đức của người trí thức".

Sau ngày ông cụ mất ít lâu, thầy muốn dẹp bỏ những vật dụng thường dùng của bố, vì gian buồng quá chật chội. Nhưng một mình thầy không đủ sức chuyển những vật dụng khá nặng từ tầng gác ba xuống sân.

Một buổi trưa, thầy đi đâu về, thấy mấy chị buôn chè chai đồng nát ngồi túm tụm trên bãi cỏ, soạn xếp những vật dụng mua được. Thầy quan sát có rất nhiều thứ mà mình đang muốn bỏ đi. Thầy nói với các chị: "Tôi có một số đồ đạc bỏ đi giống những thứ này, nhưng không mang xuống được. Tôi muốn nhờ các chị khiêng giúp, có được không?".

Các chị vui vẻ nhận lời ngay. Giường, tủ buýp-phê, ghế đẩu, ghế tựa, chậu thau, chăn màn, áo quần, giày dép… được đưa xuống, chất thành một đống lớn. Các chị lại còn giúp thầy quét tước gian buồng khá tươm tất. Thầy rất cảm động trước lòng tốt và nhiệt tình của các chị. Thầy nói: "Tôi muốn phiền các chị mang những đồ đạc đó ra khỏi sân. Vứt ngổn ngang ở đó, bà con trong khu tập thể họ phê bình làm mất trật tự, vệ sinh công cộng. Tiền công bao nhiêu, các chị cho tôi biết". Các chị nói: "Chị em chúng tôi thấy hoàn cảnh bác neo đơn, dọn dẹp giúp bác, chẳng phải công xá gì đâu ạ". Một giáo sư đại học ở tầng trên, nhìn xuống đống đồ đạc dưới sân, tiếc ngẩn người: "Giường tủ, chăn màn còn tốt thế kia, sao ông ấy lại không nhờ mình khiêng giúp!". Còn thầy thì phấn khởi ra mặt vì khỏi tốn đồng tiền công nào mà giải quyết được một việc sức mình không sao giải quyết nổi.

Thầy gọi Cao Xuân Hạo sang xem gian buồng vừa được dọn sạch đồ đạc gật gù đắc ý: "Bà con lao động thật tốt, thật từ tâm, thật đáng kính trọng".

Dễ có đến hai năm tôi không đến khu tập thể Kim Liên. Lần này trở lại, tôi ngạc nhiên thấy cái quán của bà cụ móm dưới gốc xà cừ, mà mười năm trước tôi thường ghé hút thuốc uống nước, vẫn còn nguyên ở đó. Tôi vào quán uống chén rượu thay bữa ăn sáng. Bà cụ đang rôm rả nói chuyện với mấy anh xích lô, chắc là những khách quen… "Con cháu nhà tôi nó vừa sắm được cái ti vi màu nội địa. Tối hôm kia, bắt dây dợ xong, bật lên thấy đang chiếu cảnh tang lễ một ông tên là gì gì Thảo đó. Người ta giới thiệu cái ông Thảo này là nhà triết học nổi tiếng thế giới, làm đến sáu, bảy chức, chức nào cũng dài dài là, chắc là toàn chức to được tặng huân chương Độc lập hạng hai. Ông ta sang tận bên Tây mà chết, cả Tây cả ta đều làm lễ truy điệu, toàn bộ cấp cao, có danh giá đến dự… Trong khu nhà B6 đằng kia cũng có một ông tên Thảo, nhưng lôi thôi nhếch nhác quá mấy anh công nhân móc cống. Mùa rét thì áo bông sù sụ, mùa nực thì bà ba nâu bạc phếch, quần ống cao ống thấp, chân dép cao su đứt quai, đầu mũ lá sùm sụp, cưỡi cái xe đạp "Pơ-giô con vịt" mà mấy bà đồng nát cũng chê. Thật đúng như anh hề làm xiếc? Mặt cứ vác lên trời, đạp xe thỉnh thoảng lại tủm tỉm cười một mình như anh dở người… Một buổi trưa nắng chang chang, ông ghé vào quán uống cốc nước chè xanh, tôi hỏi: "Ông đi đâu về mà nắng nom vất vả thế… ế… ế…". Ông nói: Lên chợ Hàng Bè mua củi đun. Tôi hỏi: Thế củi ông để đâu cả rồi? Ông quay lại nhìn cái "poócbaga", mặt cứ ngẩn tò te. Chỉ còn có sợi dây buộc! Củi ná rơi đâu hết dọc đường, chẳng còn lấy một que… Nghĩ cũng tội, già ngần ấy tuổi đầu mà phải nấu lấy ăn, không vợ, không con… Đấy, cũng là Thảo cả đấy, mà Thảo một đằng thì chết danh, chết giá, còn Thảo này thì sống cơ cực trần ai". Bà cụ chép miệng thương cảm: "Một vài năm nay không thấy ông đạp xe ngang qua đây, dễ chết rồi cũng nên…".

Tôi uống cạn chén rượu, cười góp chuyện: "Cái ông Thảo mà bà kể đó chính là cái ông Thảo người ta chiếu tang lễ trên ti vi…". Bà già bĩu môi: "Ông đừng tưởng tôi già cả mà nói lỡm tôi!".

Phùng Quán

Saturday, July 26, 2014

Vladimir Putin

Cuộc sống của Vladimir Putin như thế nào?


Nhà lãnh đạo Nga khởi sự ngày làm việc vào buổi trưa, bắt đầu từ việc đọc các tờ báo lá cải. Ông chỉ ăn rau được gửi tới từ Thượng Phụ của Giáo Hội Chính Thống Nga, còn trong các chuyến công du nước ngoài ông mang theo những container đồ dự trữ. Các bạn hãy đọc để biết cuộc sống của Putin như thế nào.
 
Nhà văn Mỹ Ben Judah trong thời gian suốt ba năm đã phỏng vấn những người xung quanh Putin, thu thập tài liệu cho cuốn sách "Fragile Empire: How Russia Fell In and Out of Love With Vladimir Putin" (tạm dịch: Đế chế mỏng manh: Nuớc Nga đã yêu và không yêu như thế nào với Vladimir Putin). Ông đã đến gặp các bộ trưởng hiện tại và trước đây, các cố vấn, thư ký, những người từ môi trường xung quanh và những nguời phục vụ. Nhiều người đồng ý nói về nhà lãnh đạo nhưng chỉ nặc danh vì sợ bị trả thù. Tuy nhiên, Judah đã công bố trên "Newsweek" ấn bản tiếng Anh, mô tả cuộc sống hàng ngày của Vladimir Putin. Dưới đây là phần trích của các tài liệu về cuộc đời của một người gieo rắc nỗi sợ hãi ở châu Âu.
 
Từ những phát hiện của Judah cho thấy Putin thức dậy muộn và ăn sáng trong vài phút vào lúc trưa. Các món ăn khá giản dị: luôn luôn phải có sữa đông, món trứng ốpla - Tổng thống Nga có vẻ thích trứng chim cút, đôi khi bột yến mạch. Nhấm nháp nước ép trái cây. Tất cả các sản phẩm trên bàn ăn được giao từ một trang trại thuộc tộc trưởng Giáo hội Chính thống Nga.
 
Sau khi ăn sáng xong, Putin triệu tập các bộ trưởng, còn ông đi vào hồ bơi. Ông tập thể dục một mình: đầu tiên khởi động, sau đó tập trong phòng thể dục, nơi ông nhất thích đẩy tạ. Thông thường ông tập hai giờ đồng hồ. Tổng thống thích tắm lâu. Đắm mình luân phiên trong nước nóng và lạnh. Ông mặc quần áo cẩn thận. Luôn luôn phù hợp, những bộ veston cắt vừa vặn với màu sắc bảo thủ. Ông cũng chọn cà vạt có màu sắc hợp thời.
 
Tổng thống bắt đầu buổi sáng khá mất một thời gian, bởi vì Putin thường thích làm việc đến đêm khuya - Những nói người tiếp chuyện nói với Judah.
 
Nhà lãnh đạo điện Kremlin đọc gì
 
Trong khi ông Putin đang tập cơ bắp và tái tạo sức lực thì ở ngoài phòng chờ ốp gạch tráng men của cung điện nằm ngoài Moscow các "cận thần" tập hợp lại. Hiếm khi họ được nói về thời gian. Thường ông lệnh cho họ chờ đợi. Ba, có khi bốn giờ và quan sát hành vi của họ qua các camera ẩn.
 
Ông ngồi xuống để làm việc bên chiếc bàn gỗ lớn. theo "Newsweek", Putin bị ám ảnh bởi thông tin, do đó đầu tiên ông chú trọng ba cặp da khắc nổi một con đại bàng hai đầu. Cái thứ nhất, do Cơ quan An ninh liên bang (FSB) chuẩn bị, đề cập đến tình hình trong nước. Cái thứ hai, thông tin từ thế giới được cơ quan tình báo nước ngoài SVR chuẩn bị. Cuối cùng, là cặp nói về tình hình trong quân đội và lực lượng đặc biệt.
 
Tuy nhiên, như chúng ta đọc trong "Newsweek", nhà lãnh đạo điện Kremlin chú ý nhất không phải các báo cáo tình báo, mà là những thứ từ báo chí. Ông ưu tiên các phương tiện truyền thông của Nga. Bắt đầu bằng việc xem những tờ báo lá cải được đọc bởi hàng triệu người Nga: "Komsomolsk Truth" và "Moscow Komsomolets". Tổng thống muốn biết những gì họ viết trong các cột tin đồn, tâm trạng xã hội, mọi người phản ứng với các sự kiện đó như thế nào. Sau đó, ông đọc các nhật báo ít bị kiểm duyệt như​​"Wiadomosti" và "Kommersant". Có vẻ ông rất quan tâm đến những gì mà nhà báo Andrei Kolesnikov viết trên "Kommersant". Sau cùng, ít quan trọng nhất - báo chí nước ngoài. Những mẩu báo cắt ra được văn phòng tổng thống và Bộ Ngoại giao chuẩn bị. Họ không che giấu tin xấu và những ý kiến ​​không thuận lợi. Tổng thống cần phải biết mình ông bị phỉ báng ở nước ngoài ra sao. Tư liệu từ báo chí Đức không cần dịch, vì Putin - cựu sĩ quan tình báo KGB ở Dresden - thông thạo ngôn ngữ này.
 
Điều kiện làm việc
 
Putin không phải là một người hâm mộ công nghệ hiện đại. Ông sử dụng các thư mục đựng tài liệu màu đỏ, gọi điện thoại được mã hóa kết nối trực tiếp đến đường dây với người gọi vẫn còn nhớ thời gian của Liên Xô.
 
Putin rất ít sử dụng Internet, bởi vì như những người nói chuyện với "Newsweek", ông không ứng xử thành thạo máy vi tính. Mỗi lần có hàng chục cửa sổ hiện ra, ông bị lạc trong tìm kiếm. Tuy nhiên, thỉnh thoảng các cố vấn chỉ cho ông những clip video châm biếm về những các vấn đề của ông. Để ông biết nó được nhái lại như thế nào.
 
Những người xung quanh nhà lãnh đạo điện Kremlin cho rằng cuộc sống của Putin trong những năm qua bị che phủ trong các nghi lễ. Đó là những cuộc gặp mặt 15 phút hàng ngày, được lên kế hoạch hàng tháng hoặc thậm chí nhiều năm trước đó. Ông thực hiện nó chẳng tha thiết gì. Hầu hết các cuộc gặp mặt như vậy không có ý nghĩa quan trọng. Bởi vì đìều này có thể rút ra từ chuyến thăm của Hoàng tử Bahrain, khen thưởng huy chương đồng cho các anh hùng lao động hay là xem xét chương trình hỗ trợ cho ngành công nghiệp hàng không vũ trụ?
 
Tất cả các cuộc gặp mặt mà nếu có thể, Putin tổ chức tại nhà riêng - được bao quanh bởi công viên của cung điện ở làng Novo-Ogarjowo, 24 km về phía tây của Moscow. Putin không thích thủ đô nuớc Nga. Vì vậy, các cuộc họp ở Moscow được giảm đến mức tối thiểu - ông ở trong điện Kremlin chỉ khi cần gây ấn tượng hoành tráng: nội thất rất lớn, đèn chùm pha lê và những tấm gương lớn. Khi cần thiết, ông có thể đến điện Kremlin trong 25 phút. Bởi vì sẽ có lằn đường được dọn dẹp riêng cho xe ông.
 
Putin cũng làm việc vào ngày thứ bảy và chủ nhật, nhưng lịch trình các cuộc gặp mặt hàng ngày ít đi. Ông dành thời gian cho việc học tiếng Anh vào buổi chiều. "Dường như một trong những phương pháp học bài là hát chung với thầy giáo những bài hát, bởi vì nó giúp tổng thống làm chủ được cách phát âm khó khăn của một số từ" - Newsweek viết.
 
Bản thân Putin nói rằng ông làm việc nhiều hơn bất kỳ nhà lãnh đạo Moscow kể từ Stalin. Thực tế là bầu đoàn của tổng thống luôn chạy từ dinh thự đến điện Kremlin và sân bay.
 
Công du
 
Không có người tiền nhiệm nào công du mà chịu thương lượng và biết nhiều về nước Nga như ông đã làm. Khi Putin bắt tay vào một cuộc hành trình, có ba máy bay cất cánh. Một máy bay trinh sát trước đó chuẩn bị cho chuyến thăm, một máy bay vận tải mang đồ dùng, và máy bay cuối cùng chở tổng thống với đoàn tháp tùng. Cả hạm đội này rời sân bay khoảng năm lần một tháng. Putin muốn có mặt ở khắp mọi nơi: trong khu công nghiệp Omsk, trong các khu rừng Karelia,hay tại một cuộc họp ở  Astana.
 
Tuy nhiên, như "Newsweek" viết, các cuộc viếng thăm của chủ nhà được tổ chức rất chu đáo. Thống đốc các tỉnh làm tất cả mọi thứ để vừa mắt ông chủ và thường tương phản với màu sắc thực tế. Oh, lần cuối cùng ở  Suzdal, nơi những ngôi nhà gỗ mục nát được bao phủ bởi vải bạt màu sắc và mặt tiền được sơn phết.
 
Trong các chuyến thăm Putin ít nói. Ông cũng không cần phải mỉm cười, không rảo bộ, không uống rượu. Luôn luôn có khoảng 10 người xung quanh, không có ai có thể tiếp cận ông gần hơn 3 mét. Khi ông ngồi trong phòng, những người khác nói chuyện chính sách thì thầm.
 
Tuy nhiên, những chuyến đi nước ước ngoài thì khác. Các phòng ban thích ứng và tình báo lập kế hoạch với một khoảng cách thời gian rất lớn. Nhóm chuẩn bị cho chuyến đi của tổng thống đến truớc một tháng. Khách sạn, nơi Putin ở, được kiểm tra kỹ lưỡng, bao gồm cả khả năng phòng tắm có thể ngộ độc sinh học. Sau đó, một phần lớn các thân cận của tổng thống đến hiện trường một vài tuần trước. Các đầu bếp Nga, phục vụ dọn dẹp, bồi bàn và hai tấn lương thực sẽ tới khách sạn. Thông thường bầu đoàn của Putin lấy khoảng 200 phòng, khách sạn có một thang máy đặc biệt dùng riêng. Phòng mà tổng thống ở được kiểm ra và niêm phong. Khăn mặt, đồ vệ sinh, đồ ăn nhẹ của khách sạn được loại bỏ. Mỹ phẩm và các loại trái cây mang tới từ điện Kremlin được kiểm tra kỹ lưỡng. Không ai có quyền vào phòng tổng thống. Điều này được đảm bảo bởi nhóm bảo vệ đặc biệt.
 
Trong các cuộc gặp mặt, Tổng thống không thể được mời ăn bởi chủ nhà hay tổng thống khác. Có nhiều vấn đề với một đất nước có truyền thống ẩm thực phong phú. Nhưng cuối cùng cũng đã sẽ xảy ra việc là các sản phẩm mang đến từ Nga được các đầu bếp địa phương nấu ăn, nhưng cơ quan an ninh FSB, tình báo SVR và các chuyên gia phải xét nghiệm.
 
Thời gian rỗi
 
Những lúc không làm việc Putin thường đọc sách. Nhất là lịch sử. Ông nghiên cứu kỹ các tập sách cồng kềnh nói về  Ivan, Catherine II, Peter Đại đế. Hình như trong năm 2006, ông đọc cuốn tiểu thuyết "Sankja" của Zahar Prilepin với sự tôn kính lớn. Cuốn tiểu thuyết kinh dị này, trong đó đại diện của giai cấp công nhân chiến đấu với quân Chechnya, và cuối cùng đã dọn văn phòng của tay thống đốc trộm cướp bằng một khẩu súng máy. Những người xung quanh cũng cho rằng ông thích cuốn "Đế chế thứ ba" tiểu thuyết nói về năm 2054, trong đó mô tả Sa hoàng Vladimir II, người thống nhất các vùng đất Nga.
 
Nhưng - "Newsweek" nhấn mạnh - ông thích thể thao hơn là đọc. Ông rất thích khúc côn cầu và chới nó bất cứ khi nào có thể. Bấy giờ ông đội mũ, cầm gậy và ra sân. Từ các cuộc toạ đàm của những nguời nói chuyện với "Newsweek" cho thấy, tổng thống tổ chức chơi dường như cứ mỗi vài tuần. Người chơi là đội vệ sĩ - ông và Medvedev (mặc dù vị khách này hiếm xuất hiện). Những người chơi mặc những chiếc áo giống như Putin, trong khi chơi có thể la hét lên với ông bằng tên.
 
Trò chơi nhiều khi tính đến sự hiện diện trên khán đài nhiều hơn. Những người được mời thường có mối quan hệ chặt chẽ với tổng thống. Vì vậy, đến xem là những người đáng tin cậy nhất. Đa số là các đồng chí cũ, đã được kiểm nghiệm qua nhiều năm bạn bè, từ thời còn ở St Petersburg. Có thể nói rằng ông tin tưởng, bởi vì họ đã cùng với ông khi ông là phó thị trưởng St Petersburg. Thưở mà sự kết nối họ là đường dây điện ưu tiên cho nhà nghỉ ngoại ô và nướng những vỉ thịt rẻ tiền. Giờ đây họ được hưởng tất cả các đặc quyền mà họ xứng đáng. Trước đây họ gọi Putin là "sếp". Bây giờ gọi ông là "Sa hoàng". Các đồng chí hôm nay là những người đứng đầu các tập đoàn nhà nước. Một số trong số họ nằm trong danh sách bị cấm nhập cảnh vào Hoa Kỳ. Oh, như anh em Arkady và Boris Rotenberg hay Gennady Timchenko.
 
Gia đình
 
Putin không có một cuộc sống gia đình. Cha mẹ ông đã chết, và ông đã ly dị vợ sau một thời gian ly hôn dài, hai con gái của ông sống ở nước ngoài. Có tin đồn rằng những người mẫu và các cô gái thể dục thẩm mỹ ban đêm vẫn đến với ông, nhưng không ai trong số các cận thần muốn xác nhận.
 
Nhưng có một điều ai cũng biết, Putin rất yêu động vật. Đặc biệt là những con không ngoan ngoãn. Ông thích con chó màu đen của mình. Ông thích đi săn, đặc biệt bằng máy bay trực thăng trên vùng cao  nguyên để tìm kiếm hổ và gấu, được xem là vẻ đẹp vĩ đại nhất của Nga.

* Bài được dịch từ tiếng Ba Lan đăng trên Newsweek ấn bản Ba Lan ngày 24/07/2014 tại link:

Lê Diễn Đức

Friday, July 25, 2014

R.I.P

Ca sĩ Quỳnh Giao


Tân nhạc Việt Nam sau di cư và trước di tản


Người Việt lãng mạn của chúng ta thường bị giằng xé với hai giấc mơ tương phản.


Sống tại vùng chật hẹp với giang hồ sông nước là sự cách trở, chúng ta mơ chân trời xa lạ “như lũ chim quyết tung trời mây”... Và dù có gặp “biển hồ mênh mông không nơi ngừng cánh tránh gió táp,” chúng ta vẫn “thề quyết ra đi từ đây.” Nhạc sĩ Lâm Tuyền ghi lại cho tiềm thức chung cái giấc mơ đó.

Thế rồi, khi đã toại lòng với “bao năm qua ta sống giang hồ xa quê nhà, nơi xa xôi muôn ý phiêu lưu dâng cho đời,” thì cũng chính tâm hồn lãng mạn ấy hát khúc ngày về. Giấc mơ hồi hương là phần tương phản của cái chí tung hoành đi tìm đất lạ.

Nếu đọc lại nhiều bài viết của Vũ Hoàng Chương thì có thể mường tượng ra giấc mơ giang hồ đó. Nó trải rộng trong hồn thơ chứ vẫn thu hẹp vào khoảnh đất nhỏ xíu. Từ Nam Ðịnh đến Hà Nội đã là một phiêu lưu. Lên tới núi rừng Việt Bắc thì đấy là cõi bạt ngàn!...

Quỳnh Giao nhắc lại Lâm Tuyền hay Vũ Hoàng Chương vì nhớ tuổi ấu thơ thao thức của mình khi sắp được đi Vũng Tầu! Lên tới Ðà Lạt thì đã tựa như vào Thiên Thai trong cổ tích....

Thế rồi một biến cố đã giập giấc mơ vào thực tại. Với nhiều người thì đấy là cơn ác mộng.

Hiệp định Genève năm 1954 chia đất nước ra hai vùng giới tuyến làm nhiều người phải giang hồ thật! Phong trào di cư từ Bắc vào Nam là biến cố lớn lao nhất thế kỷ, cho đến ngày có cuộc di tản năm 1975 và sau đó.

Nền tân nhạc cải cách Việt Nam xuất phát đầu tiên từ trong Nam vào quãng 1938-1940. Rồi bùng phát và trưởng thành là ở ngoài Bắc trong thời kỳ 1945-1954. Ðấy là giai đoạn hào hùng mà lãng mạn với rất nhiều ca khúc trữ tình. Rồi cuộc di cư 54 là một giao động lớn trong thế giới tân nhạc ấy.....

Chúng ta có những nhà soạn nhạc đã thành danh ở miền Bắc. Phần lớn trong số này cũng là nhạc công, là nhạc sĩ trình diễn chuyên nghiệp với một hay nhiều nhạc cụ. Những người vào Nam từ trước chỉ là một thiểu số hiếm hoi. Sớm nhất thì có Lê Thương từ năm 1941, trễ hơn chục năm thì có Phạm Duy và Phạm Ðình Chương trong “gia đình Thăng Long.”

Phong trào di cư từ 1954 mới xô đẩy đa số còn lại vào Nam và làm thay đổi không khí tân nhạc.

Các nhạc sĩ tên tuổi từ miền Bắc có Dương Thiệu Tước, Thẩm Oánh, Ngọc Bích, Hoàng Trọng và Vũ Thành. Những nhạc sĩ kế tiếp nổi danh như cồn ở trong Nam thì có Ðan Thọ, Nguyễn Hiền hay Nhật Bằng, Cung Tiến. Phải gõ chữ vân vân vì nhiều lắm. Những người còn ở lại miền Bắc, như Văn Cao, Hoàng Giác, Hoàng Phú, Tô Vũ hay Ðoàn Chuẩn, Nguyễn Văn Tý thì hết viết... như cũ.

Nhớ lại chuyện 60 năm trước, chúng ta tự hỏi là lớp nhạc sĩ di cư đã sáng tác những gì sau đó?

Trong mọi cơn chấn động bàng hoàng, con người chúng ta chỉ là lũ trẻ thơ. Hãy nhìn bầy trẻ khi chúng hãi sợ, hoặc gặp điều phật ý mà khó hiểu. Có những đứa thì hờn lẫy giẫy giụa, nhưng cũng có đứa lặng người không thể gào khóc. Còn gào thét là còn tin rằng ai đó sẽ phải lo cho mình, chứ nếu lặng người nín thinh thì đấy là lúc đứa trẻ bần thần tuyệt vọng nhất. Sau cơn chấn động như 1954 hay 1975, chúng ta đều lặng người trong tê tái.

Nhưng các nhạc sĩ của chúng ta lại khác bầy trẻ. Họ không nín lặng mà khóc bằng nhạc.

Cảm hứng viết nhạc hoài hương có sẵn trong tâm khảm đã từ biến cố 54 đưa tới nhiều ca khúc về cố hương. Không kể những bài đã có từ trước như “Ôi Quê Xưa” của Dương Thiệu Tước, “Tình Hoài Hương” của Phạm Duy hay “Hướng Về Hà Nội” của Hoàng Dương, chúng ta nhớ lại “Khóc Biệt Kinh Kỳ” và “Bên Bờ Ðại Dương” của Hoàng Trọng, “Xa Quê Hương” của Ðan Thọ, “Bóng Quê Xưa” của Nhật Bằng và “Tìm Về Bến Xưa” hay “Thanh Bình Ca” của Nguyễn Hiền, v.v....

Ðan Thọ và Nguyễn Hiền là hai nhạc sĩ có nhiều tác phẩm về nỗi hoài niệm quê hương đã mất kể từ thời 54.
Ngày nay, Ðan Thọ vẫn còn và có lẽ không quên sự thổn thức của 60 năm trước.

Ngồi nhớ và nghe lại thì sau biến cố Genève 54, các nhạc sĩ của chúng ta còn bị giằng xé theo một cách khác. Nhiều người vẫn tin vào một ngày trở về.

“Giấc mơ hồi hương” của Vũ Thành là tác phẩm đẹp nhất của đề tài này. Ngoài lời một được gợi lên từ một bài thơ, lời hai của chính tác giả trong điệp khúc có âm điệu khải hoàn ca: “ngoài chân mây xa bừng lên muôn ánh hào quang” vì đấy là lúc giấc mơ đã thành, là “cùng dìu nhau sát vai sống trong tình thương.”...

Người khác thì khám phá và hát mừng sự bao la choáng ngợp của miền đất mới.

Vào Nam từ trước, Phạm Ðình Chương sớm ngợi ca miền Nam đôn hậu từ hình ảnh Cửu Long của trường ca Hội Trùng Dương. Rồi qua năm 1955, ông chấm nơi này là “Ðất Lành” và hát về mối tình Nam-Bắc một nhà: “Em gái Bắc Ninh, anh trai Biên Hòa. Em đất Thanh Nghệ, anh nhà Cà Mâu. Ðồi nương thương sức cần lao, se duyên Nam Bắc ngọt ngào tình yêu”...

Cũng trong dòng nhạc đó, trường ca “Con Ðường Cái Quan” do Phạm Duy thai nghén từ năm 54 tại Paris và hoàn thành về sau ở trong Nam đã có những giai điệu “tốt tươi” nhất - chữ “tốt tươi” là của ông - là từ đoạn 16 trở về sau, khi chàng lữ khách mơ giấc hải hồ vào tới trong Nam!

Trong số nhạc sĩ di cư, Hoàng Trọng nổi danh từ đất Nam Ðịnh với nhiều ca khúc luyến nhớ. Sau khi vào Nam, từ “Mộng Ngày Hồi Hương” năm 1956, ông hòa vào niềm vui mới qua bài “Ðẹp Mùa Yên Vui” sáng tác năm 1958 với lời từ của Hồ Ðình Phương: “Miền Nam mưa nắng giao hòa, Câu hát câu hò say trời quê đẹp như gấm hoa...”

Sự giằng xé dễ hiểu mà đáng thương của người viết nhạc diễn tả tâm tình day dứt của chúng ta giữa cái cũ đã mất và cái mới đã thành đời sống thật.

Ngồi hát lại trong tâm tưởng, “Con Ðường Cái Quan” đã từ đoạn Cửu Long Giang mà hò “Về Miền Nam” và dẫn tới đoạn kết là “Ðường Ði Ðã Tới.” “Về Miền Nam” cũng là tên ca khúc của Trọng Khương. Chúng ta không đi nữa mà về. Thâm tâm hát mừng như vậy thật, chứ không vì sự tuyên truyền của loại nhạc cổ động, mà dẫu gì thì hai miền vẫn chung một đất nước.

Rồi thời gian và sự tự do của miền Nam hàn gắn tất cả và dẫn tân nhạc qua một thế giới khác lạ.

Sau khi đất nước chia đôi, trong số đông đảo các nhạc sĩ và ca sĩ di cư vào Nam có nhiều nhạc công cự phách. Nhạc khúc mới và cách trình diễn tân kỳ thổi gió mới vào nhạc qua đài phát thanh, phần phụ diễn văn nghệ của phim chiếu bóng rồi đại nhạc hội và phòng trà hay khiêu vũ trường...

Khác bộ môn văn chương là nơi mà lối viết của dân miền Nam làm phong thái chân phương của nhà văn miền Bắc trở thành sống động hơn, với những đối thoại rất gần với thực tế ngoài đời, bộ môn tân nhạc ở miền Nam lại tiếp nhận tính chất trang nhã nhiều khi cầu kỳ của ca nhạc sĩ di cư từ miền Bắc. Nghệ sĩ di cư như Dương Thiệu Tước, Vũ Thành, Hoàng Trọng, Anh Ngọc cùng các ban nhạc và lối hòa âm đã thật sự làm tân nhạc miền Nam đổi khác. Từ đó, các nhạc sĩ trong Nam không còn viết như trước nữa, nhiều ca sĩ cũng trình bày theo giọng Bắc.

Sau đấy còn có sự đóng góp của đông đảo thi sĩ di cư từ miền Bắc, và cả các nhà thơ tòng quân nhập ngũ, khiến nghệ thuật phổ thơ vào nhạc còn đem lại một phong thái khác hẳn cái thời mà chúng ta gọi là “tiền chiến.”

Cũng từ đấy, người nghe khó phân biệt được sáng tác Y Vân, Nguyễn Văn Ðông, Lê Dinh, Minh Kỳ hay Lam Phương với ca khúc của nhạc sĩ di cư đất Bắc. Nếu có khác thì đấy là giữa thể loại ca khúc của thành phố thanh bình, có men rượu, khói thuốc và cả một chút Paris, với nhạc chân quê hay nhạc của người lính thời chiến.

Cho đến khi Nam Bắc thật sự là một nhà, và khi nền tân nhạc hết phân biệt hậu phương hay tiền tuyến thì chúng ta gặp cuộc đổi đời thứ hai, biến cố 1975. Lần này cũng vẫn phong ba giông tố, nhưng không là một nơi chốn mới của quê hương mà là một sự giã biệt bi thảm hơn. Sang năm, chúng ta sẽ viết lại chuyện này....

***
Từ nhiều tháng nay, người viết ngồi dưỡng bệnh bằng nhạc, cho đến khi tòa soạn Người Việt yêu cầu một bài đặc biệt về tân nhạc trong và sau biến cố 54.

Không vì “yêu sách” của tờ báo mà vì yêu nhạc, Quỳnh Giao cố gõ lại trí nhớ mà gửi độc giả bài này, với một kết luận là sự tri ân của một người đã nghe và hát: “Nền tân nhạc Việt Nam có nhiều tác phẩm nghệ thuật nhất, và đáng nhớ nhất vì còn được hát ngày nay, là ở miền Nam, trong giai đoạn 1954-1975. Trước đấy thì chưa có và sau đó thì không còn...”


Quỳnh Giao
Đọc thêm

Thursday, July 24, 2014

NVHN

Việc Thi Hành Hiệp Định Genève

Nhân kỷ niệm 60 năm hiệp định Genève (20-7-1954), chúng ta thử nhìn lại Bắc Việt Nam (BVN) dựa vào lý do nào để khởi binh tấn công Nam Việt Nam (NVN)?

1.- HIỆP ĐỊNH GENÈVE 

Danh xưng chính thức đầy đủ của hiệp định Genève về Việt Nam là Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam. Hiệp định nầy được viết bằng hai thứ tiếng Pháp và Việt, có giá trị như nhau. Hai nhân vật chính ký vào hiệp định Genève là Henri Delteil, thiếu tướng, thay mặt Tổng tư lệnh Quân đội Liên Hiệp Pháp ở Đông Dương và Tạ Quang Bửu, thứ trưởng Bộ Quốc phòng chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH tức Việt Minh cộng sản). Đại diện các nước khác cùng ký vào hiệp định Genève còn có Anh, Liên Xô, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (Trung Cộng), Lào, Cambodia. Chính phủ Quốc Gia Việt Nam (QGVN) và Hoa Kỳ không ký vào bản hiệp định nầy.

Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam (gọi tắt là hiệp định Genève) gồm có 6 chương, 47 điều, trong đó các điều chính như sau:
Việt Nam được chia thành hai vùng tập trung, ranh giới tạm thời từ cửa sông Bến Hải, theo dòng sông, đến làng Bồ-Hô-Su và biên giới Lào Việt. [Cửa sông Bến Hải tức Cửa Tùng, thuộc tỉnh Quảng Trị. Sông Bến Hải ở vĩ tuyến 17 nên người ta nói nước Việt Nam được chia hai ở vĩ tuyến 17.] Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ở phía bắc (tức Bắc Việt Nam) và Quốc Gia Việt Nam ở phía nam (tức Nam Việt Nam). Dọc hai bên bờ sông, thành lập một khu phi quân sự rộng 5 cây số mỗi bên, để làm “khu đệm”, có hiệu lực từ ngày 14-8-1954. Thời hạn tối đa để hai bên rút quân là 300 ngày kể từ ngày hiệp định có hiệu lực. Cuộc ngưng bắn bắt đầu từ 8 giờ sáng ngày 27-7 ở Bắc Việt, 1-8 ở Trung Việt và 11-8 ở Nam Việt. Mỗi bên sẽ phụ trách tập họp quân đội của mình và tự tổ chức nền hành chánh riêng. Cấm phá hủy trước khi rút lui. Không được trả thù hay ngược đãi những người đã hợp tác với phía đối phương. Trong thời gian 300 ngày, dân chúng được tự do di cư từ khu nầy sang khu thuộc phía bên kia. Cấm đem thêm quân đội, vũ khí hoặc lập thêm căn cứ quân sự mới. Tù binh và thường dân bị giữ, được phóng thích trong thời hạn 30 ngày, kể từ khi thực sự ngừng bắn. Sự giám sát và kiểm soát thi hành hiệp định sẽ giao cho một Uỷ ban Quốc tế. Thời hạn rút quân riêng cho từng khu vực kể từ ngày ngừng bắn: Hà Nội (80 ngày), Hải Dương (100 ngày), Hải Phòng (300 ngày), miền Nam Trung Việt (80 ngày), Đồng Tháp Mười (100 ngày), Cà Mau (200 ngày). Đợt chót ở khu tập kết Trung Việt (300 ngày).

2.- AI VI PHẠM HIỆP ĐỊNH GENÈVE ?

Hiệp định Genève ký kết ngày 20-7-1954 chỉ là một hiệp định có tính cách thuần tuý quân sự. Cũng giống như hiệp ước đình chiến Panmunjom (Bàn Môn Điếm) ngày 27-7-1953 ở Triều Tiên, hiệp định Genève không phải là một hòa ước, và không đưa ra một giải pháp chính trị nào cho tương lai Việt Nam.

Chính phủ QGVN dưới quyền quốc trưởng Bảo Đại và thủ tướng Ngô Đình Diệm lo tập trung và rút toàn bộ lực lượng của mình về miền Nam vĩ tuyền 17 đúng thời hạn và đúng theo quy định của hiệp định. Điều nầy chẳng những báo chí lúc bấy giờ đã trình bày, mà cho đến nay, chẳng có tài liệu sách vở nào cho thấy là chính phủ QGVN đã gài người hay lưu quân ở lại đất Bắc. Như thế, trong việc thi hành hiệp định Genève, chính phủ QGVN đã thi hành đúng đắn hiệp định.

Trái lại, nhà nước VNDCCH do Việt Minh cộng sản cầm đầu đã không tuân hành quy định trong hiệp định Genève. Sau đây là hai bằng chứng cụ thể do phía cộng sản đưa ra về sau:

Thứ nhứt, tại hội nghị Liễu Châu (Liuzhou) thuộc tỉnh Quảng Tây (Kwangsi), giữa thủ tướng Trung Cộng Chu Ân Lai và chủ tịch nhà nước VNDCCH Hồ Chí Minh từ ngày 3 đến ngày 5-7-1954, tức trước khi hiệp định Genève được ký kết, Hồ Chí Minh đã đưa ra kế hoạch là sẽ chỉ rút những người làm công tác chính trị bị lộ diện; phần còn lại thì ở lại để chờ đợi thời cơ nổi dậy. Số ở lại có thể đến 10,000 người. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, bản dịch của Dương Danh Dy, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 “Hội nghị Liễu Châu then chốt”. Nguồn: Internet).

Thứ hai, Việt Minh cộng sản chẳng những chôn giấu võ khí, lưu 10,000 cán bộ, đảng viên ở lại Nam Việt Nam, mà còn gài những cán bộ lãnh đạo cao cấp ở lại miền Nam như Lê Duẫn, Võ Văn Kiệt, Mai Chí Thọ, Cao Đăng Chiếm… (Huy Đức, Bên thắng cuộc, tập I: Giải phóng, New York: Osinbook, 2012, tt. 271-273), để chỉ huy Trung ương cục miền Nam (TƯCMN). Trung ương cục miền Nam được thành lập ngày 20-1-1951, chỉ huy toàn bộ hệ thống cộng sản ở Nam Việt Nam. (Tháng 10-1954, TƯCMN đổi thành Xứ ủy Nam Bộ. Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành TƯĐ (khóa III) đảng LĐ (ngày 23-1-1961) ở Hà Nội, Xứ ủy Nam Bộ trở lại thành TƯCMN.)

Hai tài liệu trên đây do phía cộng sản Việt Nam tiết lộ, chứ không phải tài liệu tuyên truyền của NVN hay Tây Phương. Như vậy, rõ ràng trong khi chính phủ QGVN tôn trọng hiệp định Genève, nhà nước VNDCCH đã có kế hoạch vi phạm hiệp định, ngay khi trước khi hiệp định được ký kết và cả sau khi hiệp định được ký kết.

3.- BẮC VIỆT NAM ĐÒI HỎI ĐIỀU KHÔNG CÓ

Hiệp định Genève chỉ là một hiệp định đình chiến, thuần túy quân sự và không đưa ra một giải pháp chính trị. Trong khi chính Bắc Việt Nam (BVN) vi phạm hiệp định Genève, thì ngày 19-7-1955, thủ tướng BVN là Phạm Văn Đồng gởi thư cho thủ tướng Nam Việt Nam (NVN) là Ngô Đình Diệm yêu cầu mở hội nghị hiệp thương bắt đầu từ ngày 20-7-1955, như đã quy định trong hiệp định Genève ngày 20-7-1954, để bàn về việc tổng tuyển cử nhằm thống nhất đất nước. (John S. Bowman, The Vietnam War, Day by Day, New York: The Maillard Press, 1989, tr. 17.) Ngày 10-8-1955, thủ tướng Ngô Đình Diệm bác bỏ đề nghị của Phạm Văn Đồng, vì cho 1955 rằng chính phủ QGVN tức NVM không ký các văn kiện Genève nên không bị ràng buộc phải thi hành.

Tuy sau đó chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), thay chính phủ QGVN, nhiều lần từ chối, Phạm Văn Đồng vẫn nhắc lại đề nghị nầy hằng năm vào các ngày 11-5-1956, 18-7-1957, và 7-3-1958, để chứng tỏ BVN quan tâm đến chuyện thống nhứt đất nước, và nhằm tuyên truyền với các nước trên thế giới. Lần cuối, Ngô Đình Diệm, lúc đó là tổng thống VNCH, bác bỏ đề nghị của Phạm Văn Đồng vào ngày 26-4-1958.

Một điều lạ lùng là trong hiệp định Genève, không có một điều khoản nào nói đến việc tổ chức tổng tuyển cử để thống nhất đất nước mà nhà cầm quyền CS cứ nhất định đòi hỏi tổ chức tổng tuyển cử theo hiệp định Genève. Thật ra, sau khi hiệp định về đình chỉ chiến sự ở Việt Nam, ở Lào và ở Cambodia được ký kết, các phái đoàn tham dự hội nghị Genève họp tiếp vào ngày 21-7-1954, nhằm bàn thảo bản “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương”. Bản tuyên bố gồm 13 điều; quan trọng nhất là điều 7, ghi rằng:
“Hội nghị tuyên bố rằng đối với Việt Nam, việc giải quyết các vấn đề chính trị thực hiện trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, sẽ phải làm cho nhân dân Việt Nam được hưởng những sự tự do căn bản, bảo đảm bởi những tổ chức dân chủ thành lập sau tổng tuyển cử tự do và bỏ phiếu kín. Để cho việc lập lại hòa bình tiến triển đến mức cần thiết cho nhân dân Việt Nam có thể tự do bày tỏ ý nguyện, cuộc Tổng tuyển cử sẽ tổ chức vào tháng 7-1956 dưới sự kiểm soát của một Ban Quốc tế gồm đại biểu những nước có chân trong Ban Giám sát và Kiểm soát Quốc tế đã nói trong Hiệp định đình chỉ chiến sự. Kể từ ngày 20-7-1955 những nhà đương cục có thẩm quyền trong hai vùng sẽ có những cuộc gặp gỡ để thương lượng về vấn đề đó.” (Thế Nguyên, Diễm Châu, Đoàn Tường, Đông Dương 1945-1973, Sài Gòn: Trình Bày, 1973, tr. 53. Xem bản Pháp văn của tuyên ngôn nầy, vào: google.com.fr., chữ khóa: Déclaration finale de la Conférence de Genève en 1954.)

Chủ tịch phiên họp là Anthony Eden (ngoại trưởng Anh) hỏi từng phái đoàn, thì bảy phái đoàn là Anh, Pháp, Liên Xô, CHNDTH, VNDCCH, Lào và Cambodge trả lời miệng rằng “đồng ý”. (Hoàng Cơ Thụy, Việt sử khảo luận, cuốn 5, Paris: Nxb. Nam Á 2002, tr. 2642.) Tất cả bảy phái đoàn đều trả lời miệng chứ không có phái đoàn nào ký tên vào bản tuyên bố, nghĩa là bản tuyên bố không có chữ ký.

Đây chỉ là lời tuyên bố (déclaration) của những phái đoàn, có tính cách dự kiến một cuộc tổng tuyển cử trong tương lai ở Việt Nam, không có chữ ký, thì chỉ có tính cách gợi ý, hướng dẫn chứ không có tính cách cưỡng hành. Một văn kiện quốc tế không có chữ ký thì làm sao có thể bắt buộc phải thi hành? Hơn nữa, những hiệp định với đầy đủ chữ ký mà còn bị CSVN vi phạm trắng trợn, huống gì là bản tuyên bố không chữ ký.

Phái đoàn QGVN và phái đoàn Hoa Kỳ không ký vào hiệp định Genève ngày 20-7-1954 và cũng không đồng ý bản “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương” ngày 21-7-1954. Hai phái đoàn QGVN và Hoa Kỳ đã đưa ra tuyên bố riêng của mỗi phái đoàn để minh định lập trường của chính phủ mình.

4.- BẮC VIỆT NAM BỊA ĐẶT LÝ DO ĐỂ TẤN CÔNG MIỀN NAM

Cộng sản BVN vi phạm hiệp định Genève ngay khi hiệp định nầy chưa được ký kết, nhưng lại bịa đặt ra hai lý do để tấn công NVN: 1) Nam Việt Nam không tôn trọng hiệp định Genève về việc tổ chức tổng tuyển cử thống nhất đất nước. 2) Nam Việt Nam là tay sai đế quốc Mỹ nên BVN quyết định chống Mỹ cứu nước.

Về lý do thứ nhứt, như trên đã viết, hiệp định Genève không đề cập đến giải pháp chính trị tương lai cho Việt Nam. Giải pháp tổng tuyển cử nằm trong điều 7 của bản “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương”. Bản tuyên bố nầy lại không có chữ ký của bất cứ phái đoàn nào, nên chỉ có tính cách khuyến cáo chứ không có tính cách bắt buộc phải thi hành.

Lý do thứ hai hoàn toàn có tính cách tưởng tượng vì sau năm 1954, Hoa Kỳ viện trợ kinh tế cho Nam Việt Nam tái thiết đất nước, ổn định cuộc sống của dân chúng sau chiến tranh, chứ Hoa Kỳ không viện trợ quân sự, chưa đem quân vào Việt Nam.
Nếu để cho VNCH yên bình xây dựng kinh tế với sự trợ giúp của Hoa Kỳ, thì đến một lúc nào đó chắc chắn VNCH với nền kinh tế tự do sẽ phát triển và vượt xa VNDCCH với nền kinh tế chỉ huy theo đường lối cộng sản. Đó chính là điều mà VNDCCH thực sự lo lắng.
Sự giúp đỡ của Hoa Kỳ cho NVN chẳng những khiến BVN rất quan ngại, mà sự hiện diện của người Hoa Kỳ tại NVN còn khiến cho cả Trung Cộng chẳng yên tâm.

Lúc đó, Hoa Kỳ đang giúp Trung Hoa Dân Quốc bảo vệ Đài Loan (Taiwan), chống Trung Cộng. Hoa Kỳ còn giúp bảo vệ Nam Triều Tiên và Nhật Bản, nên Trung Cộng mạnh mẽ chống đối Hoa Kỳ chẳng những tại Đông Á, mà còn chống Hoa Kỳ khắp nơi trên thế giới, hơn cả Liên Xô chống Hoa Kỳ. Nay người Hoa Kỳ lại có mặt ở NVN, gần sát với Trung Cộng, nên Trung Cộng rất quan ngại cho an ninh phía nam của chính Trung Cộng.
Hơn nữa, cho đến năm 1960 là năm BVN khởi động chiến tranh tấn công NVN, Hoa Kỳ chỉ viện trợ kinh tế cho NVN chứ Hoa Kỳ không đem quân vào NVN. Chỉ sau khi BVN tấn công và uy hiếp mạnh mẽ NVN, Hoa Kỳ mới đem quân vào giúp NVN năm 1965. Vì vậy, chiêu bài “chống Mỹ cứu nước” năm 1960 là hoàn toàn hoang tưởng.

Như thế, BVN cố tình đưa ra chiêu bài “chống Mỹ cứu nước” vừa để kêu gọi lòng yêu nước của người Việt Nam vốn có tinh thần chống ngoại xâm, vừa để xin viện trợ cộng sản quốc tế và thi hành nghĩa vụ quốc tế, như Lê Duẫn đã từng nói “Ta đánh Mỹ là đánh cho cả Trung Quốc, cho Liên Xô”. (Nguyễn Mạnh Cầm, ngoại trưởng CSVN từ 1991-2000, trả lời phỏng vấn đài BBC ngày 24-1-2013.)

KẾT LUẬN

Hiệp định Genève là hiệp định đình chỉ quân sự. Chính thể QGVN hay VNCH tức NVN đã thi hành đúng hiệp định Genève, trong khi VNDCCH tức BVN liên tục vi phạm hiệp định nầy. Do tham vọng quyền lực, do chủ trương bành trướng chủ nghĩa cộng sản và do làm tay sai cho Liên Xô và Trung Cộng, VNDCCH tức BVN mở cuộc chiến từ năm 1960, tấn công Việt Nam Cộng Hoà tức NVN dưới chiêu bài thống nhất đất nước và chống Mỹ cứu nước.

Nhân kỷ niệm 60 năm hiệp định Genève, xin ôn lại điều nầy để giới trẻ trong và ngoài nước thấy rõ nguyên nhân của cuộc chiến 1960-1975, làm cho đất nước điêu tàn và khoảng 3 triệu người Việt tử vong, xuất phát từ VNDCCH hay BVN do đảng Lao Động hay đảng Cộng Sản Việt Nam điều khiển.

Điều nầy càng làm sáng tỏ chính nghĩa của VNCH, cương quyết chống lại CSBVN, bảo vệ nền tự do dân chủ ở NVN, chống lại sự xâm lăng của cộng sản và sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản. Dầu thất bại, chính nghĩa tự do dân chủ của VNCH vẫn luôn luôn sáng ngời và luôn luôn là mục tiêu tối hậu mà nhân dân Việt Nam hiện đang cố gắng vươn tới.

TRẦN GIA PHỤNG
(Toronto, 20-7-2014)
@nguoivietboston

Wednesday, July 23, 2014

MH17


Vụ MH17
 Diễn văn của Ngoại trưởng Hà Lan                        

Trong lúc Nga và phương Tây còn đang mải mê tố cáo và đổ lỗi lẫn nhau theo kiểu Chiến tranh Lạnh liên quan đến vụ bắn rơi chiếc máy bay MH17, Ngoại trưởng Hà Lan, quốc gia có số công dân chiếm 2/3 hành khách trên máy bay đã có một bài phát biểu đầy xúc động khiến các đại biểu tham dự cuộc họp của Liên Hợp Quốc lặng người.

 - 1Với những lúc nghẹn lời vì quá xúc động, Ngoại trưởng Frans Timmermans đã nói với cả Liên Hợp Quốc về cú sốc của ông khi nhìn cách người ta đối xử với thi thể của các nạn nhân, cách thức đưa tin kiểu xâu xé của giới truyền thông, và những mù mờ trong các thông tin liên quan đến thảm kịch.(Ngoại trưởng Timmermans có bài phát biểu đầy xúc động trước cuộc họp của Liên Hợp Quốc)

Mở đầu bài phát biểu, ông nói: “Chúng ta có mặt ở đây để bàn về một thảm kịch, một vụ bắn rơi máy bay dân dụng, và về cái chết của 298 con người vô tội”.
“Đàn ông, phụ nữ và rất nhiều trẻ em đã bị cướp đi mạng sống khi đang trên đường đi du lịch, về nhà, về với người thân yêu hay thực hiện các nghĩa vụ quốc tế, chẳng hạn như hội nghị quốc tế về AIDS diễn ra ở Úc”.
“Từ thứ Năm tuần trước, tôi vẫn cứ nghĩ mãi về sự khủng khiếp đến mức nào mà họ phải chịu trong thời khăc cuối cùng, khi họ biết rằng máy bay đang chuẩn bị đâm xuống đất”.

 - 2“Họ có được nắm chặt tay với những người thân yêu, có được ôm con cái vào sát trái tim mình hay không? (ông Timmermans lặng đi một lúc) Họ có được nhìn vào mắt nhau vào giây phút cuối cùng để trao nhau lời vĩnh biệt không nói thành lời hay không? Chúng ta sẽ không bao giờ biết được”.(Những em bé vô tội thiệt mạng trên chuyến bay MH17)

Ngoại trưởng Timmermans tiếp tục: “Sự ra đi của gần 200 đồng bào của tôi đã để lại một vết thương lớn trong trái tim của dân tộc Hà Lan, gây ra nỗi đau, sự tức giận và tuyệt vọng. Đau vì mất đi những người thân yêu. Tức giận vì họ bắn hạ một chiếc máy bay dân sự. Và tuyệt vọng vì chứng kiến quá trình chậm chạp đến đau đớn của việc bảo vệ hiện trường và thu thập thi thể nạn nhân.”

Hôm qua, lực lượng ly khai Ukraine đã đồng ý cho một con tàu đặc biệt đã chở 282 thi thể nạn nhân tới thành phố Kharkiv để sau đó chuyển tiếp về Hà Lan bằng máy bay quân sự. Ông Timmermans cho rằng việc “đối xử tôn trọng và trao trả các thi thể không chậm trễ” là một hành động thuộc về lòng nhân đạo.

 - 3
Ông nói: “Trong những ngày qua, chúng tôi nhận được thông tin rằng thi thể các nạn nhân đã bị tự ý di chuyển, tài sản của họ bị cướp bóc. Chỉ một phút thôi, tôi muốn nói rằng tôi không phát biểu với các bạn trên tư cách là đại biểu của các quốc gia, mà với tư cách là những người chồng, người vợ, người cha, người mẹ, xin các bạn hãy tưởng tượng như vậy”.(Các nhân viên cứu hộ tìm kiếm tại hiện trường máy bay rơi)

“Hãy tưởng tượng xem khi bạn nhận được tin rằng chồng bạn vừa mới bị sát hại, và trong hai ba ngày tiếp theo, bạn nhìn thấy hình ảnh những kẻ hôi của lấy chiếc nhẫn cưới ra khỏi tay ông ấy”.

 - 4“Cho tới lúc chết, tôi vẫn không bao giờ hiểu được rằng tại sao các nhân viên cứu hộ lại mất nhiều thời gian như vậy mới được thực hiện nhiệm vụ đầy khó khăn của mình. Vì các thi thể đó đã bị lợi dụng cho một trò chơi chính trị chăng? Nếu ai đó ở đây nói về trò chơi chính trị, thì nó đây, trò chơi chính trị được bày ra bằng xác người, và nó thật đáng khinh miệt”.(Đoàn tàu chở thi thể các nạn nhân chuẩn bị khởi hành về Kharkiv)

Ngoại trưởng Timmermans kết thúc bài phát biểu của mình: “Tôi hy vọng rằng thế giới sẽ không còn phải chứng kiến điều này xảy ra nữa. Những hình ảnh đồ chơi trẻ em bị quăng quật, hành lý bị mở tung, hộ chiếu trẻ em bị trưng ra trước ống kính. Họ đã biến nỗi đau và lòng thương xót của chúng ta thành nỗi tức giận của một quốc gia. Chúng tôi yêu cầu được tiếp cận không hạn chế với hiện trường máy bay rơi, yêu cầu thi thể nạn nhân được đối xử một cách tôn trọng, yêu cầu giữ gìn phẩm giá của các nạn nhân và những người thân đang chịu đựng mất mát. Họ xứng đáng được trở về nhà.”

Sau bài phát biểu đầy xúc động này của Ngoại trưởng Timmermans, Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc đã nhất trí thông qua nghị quyết “lên án bằng những từ ngữ mạnh mẽ nhất” vụ tấn công khiến MH17 bị rơi ở Ukraine. Cơ quan Hàng không Dân dụng Liên Hợp Quốc đã được chỉ thị thực hiện một cuộc điều tra quốc tế về thảm kịch này, và lực lượng ly khai Ukraine phải tạo điều kiện cho các điều tra viên tiếp cận không bị hạn chế với hiện trường máy bay rơi.
           
Trí Dũng
 (Theo Huffington Post)