Sunday, April 20, 2014

AN

Lời người ra đi


 

Lăng Cha Cả


LĂNG CHA CẢ


Lăng Cha Cả là ngôi mộ của Giám mục Bá Đa Lộc (tục gọi là "Cha Cả", tức Pierre Joseph Georges Pigneau de Béhaine). Ngôi mộ xưa là một di tích lịch sử ở vùng Sài Gòn. Lăng Cha Cả còn được dùng gọi khu vực gần mộ, nay là phường 2, quận Tân Bình.

Giám mục Bá Đa Lộc mất năm 1799 ở Thị Nại trong trận vây thành Quy Nhơn. Vì được vua Gia Long trọng vọng, coi là "Giám mục Thượng sư", ông được đưa về an táng ở gần ngôi nhà cũ tỉnh Gia Định. Khu vực đó là khu Vườn Xoài, Tân Sơn Nhứt phía tây bắc Sài Gòn.


Triều đình giao việc xây mộ cho linh mục Barthélémy Sang. Tuy Giám mục Bá Đa Lộc là người Pháp, nhưng kiến trúc mộ ông theo kiểu Việt Nam, có bình phong, bái đường và hậu cung. Lăng Cha Cả là khu đất rộng khoảng 2000 m2, gồm một nhà lợp ngói, cột và vách bằng gỗ quý, ở trước có bia đá lớn.

Khu Tân Sơn Nhứt sang thế kỷ 20 xây cất lên, hoà nhập vào khu ngoại ô Sài Gòn. Xế về phía bắc lăng là phi trường quốc tế Tân Sơn Nhứt và Bộ Tổng tham mưu Việt Nam Cộng hòa. Về phía tây là bến xe lớn. Với những thay đổi đó ngôi lăng bị thu hẹp lại làm điểm tròn nằm lọt giữa đường Võ Tánh. Tuy vậy khu mộ được giữ gìn đến hết thời Việt Nam Cộng hòa.

Sang năm 1980, Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra lệnh giải tỏa, đến năm 1983, thì việc cải táng hoàn tất. Di hài của Giám mục Bá Đa Lộc được giao lại cho tổng lãnh sự Pháp đưa về Pháp. Mấy nếp nhà cũ bị san bằng. Còn lại là điểm tròn làm vòng xoay (bùng binh) lưu thông trên đường Hoàng Văn Thụ ngày nay. Tại đây, một cầu vượt thép được khởi công vào ngày 5 tháng 2 năm 2013.
HanhTran/DanSaigonxua

Saturday, April 19, 2014

Thơ Trần Văn Lương


Bài Trường Ca Máu
 
(Tháng Tư Đen về, nhớ đến Việt Khang và
những người Việt yêu quê hương đang


Bài trường ca tắt nửa chừng,
Lòng người sớm đã dửng dưng vô tình.


Phòng giam lạnh, người tù se nét mặt,
Lặng lẽ vin tường, ánh mắt xa xôi.
Trôi lăn trong ngục tối mấy năm rồi,
Chỉ vì "tội" hát lên lời yêu nước.
 
Sức dẫu yếu, nhưng lòng không khiếp nhược,
Vì quê nhà, luôn giữ được quyết tâm.
Phút giây đây, trong bóng tối âm thầm,
Gượng đứng thẳng, lâm râm câu thề nguyện.
                          x
                     x        x
Dù chúng có giam cầm tôi vĩnh viễn,
Vẫn không làm tắt được tiếng hát tôi.
Vì bao lâu còn có chút tàn hơi,
Chí tranh đấu vẫn còn nơi nương náu.
 
Tôi sẽ viết lên bài trường ca máu,
Vạch trần điều chúng cố giấu lâu nay,
Là dân tôi đang gánh chịu đọa đày,
Sống kềm kẹp dưới bàn tay ác thú.
 
Tôi sẽ dựng lại xóm làng xưa cũ,
Nơi bao năm luôn ấp ủ tình người,
Nhưng giờ đây, sau một cuộc đổi đời,
Đã bất hạnh thành nơi đầy bất trắc.
 
Tôi sẽ tới miền cao nguyên xa lắc,
Đang dần dà bị chúng cắt sạch cây,
Và cho Tàu khai thác khắp đó đây,
Mưa trút xuống, thành vũng lầy đỏ ối.
 
Tôi sẽ nói thay người dân vô tội,
Vượt thác ghềnh đến Hà nội kêu than,
Vì đất đai bị cán bộ tham tàn,
Đem súng ống đến ngang nhiên làm chủ.
 
Tôi sẽ đến tiễn đưa đoàn ngư phủ,
Chết oan khiên dưới súng lũ giặc Tàu,
Để nhìn rừng khăn tang trắng phau phau,
Mà thấm thía dần nỗi đau bị trị.
 
Tôi sẽ khấn các vong hồn tử sĩ,
Đau lòng vì chốn yên nghỉ ngàn thu,
Cũng không sao thoát nanh vuốt kẻ thù:
Nghĩa trang cũ thành khu buôn bán lẻ.
 
Tôi sẽ gặp, dù lòng đau như xé,
Người dân lành đang làm mẹ, làm cha,
Đói nghèo đành đem máu, thận... mình ra,
Cắn răng bán, cầu qua cơn khốn khó.
 
Tôi sẽ tiếc thương người con gái nhỏ,
Vì miếng ăn phải rời bỏ thôn nhà,
Rồi vô tình vướng cạm bẫy phồn hoa,
Thành hàng hóa bày bán ra xứ lạ.
 
Tôi sẽ khóc khi nhìn khay thuốc lá,
Của người đang vất vả kiếp thương binh,
Vì cho dân xưa được sống an bình,
Đã không ngại hy sinh phần thân thể.
 
Tôi sẽ đến góp chung đôi dòng lệ,
Với gia đình những người trẻ hăng say,
Chống bọn Tàu xâm lược, để giờ đây,
Phải đau đớn chịu đắng cay tù rạc.
 
Tôi sẽ kể hết muôn ngàn tội ác,
Của bọn cầm quyền khắc bạc phi nhân,
Chà đạp nhân quyền, bán nước, hại dân,
Theo lệnh chủ, như một phần món nợ.
 
Tôi sẽ hát thật to lời nhắc nhở,
Để dân mình luôn nhớ đến non sông,
Để mai sau con cháu giống Lạc Hồng,
Không phải sống lưu vong trên đất Việt.
 
Và tôi sẽ cầu xin trong đoạn kết,
Cho toàn dân thôi hết sợ bạo quyền,
Cất cao đầu, cương quyết đứng vùng lên,
Đem hạnh phúc trở về trên cố thổ.
                          x
                     x        x
Từ ngục tối, từng câu ca thống khổ,
Vượt tường giam như thác đổ băng rừng.
Nhưng than ôi, lòng người đã dửng dưng,
Nên tiếng hát nửa chừng đành đứt đoạn.
 
Chỉ còn lại mớ âm thanh hỗn loạn:
Tiếng chào mời, tiếng rao bán hét la,
Tiếng bấm hình của các nhiếp ảnh gia,
Tiếng lanh lảnh của các nhà "từ thiện",
 
Lẫn với tiếng huênh hoang trò chuyện,
Của đàn người vượt biển năm nao,
Về ăn chơi chè chén xôn xao,
Thành tích nổ ào ào vui hơn Tết.
 
Người nhạc sĩ trong tù nằm lịm chết,
Bản trường ca đoạn kết chửa kịp vang.
Và ngoài kia, dưới xiềng xích ngoại bang,
Vùng đất khổ vẫn ngập tràn tang tóc.
                          x
                     x        x
Đêm đất trọ, mấy ai còn trằn trọc,
Tháng Tư  về, mấy kẻ khóc quê hương !

Trần Văn Lương
Cali, Mùa Quốc Hận 2014

Thursday, April 17, 2014

Từ Thức.

Sau Cộng sản, sẽ có tự do dân chủ ?


Muốn xây dựng lại một đất nước đổ vỡ, phải chấm dứt chế độ Cộng sản. Sự tồn tại của một chế độ kỳ quái như vậy là một hiện tượng bất bình thường, trong một quốc gia bất bình thường, trong thế kỷ 21. Nhưng khi chế độ kỳ quái đó sụp đổ, có chắc chắn sẽ có tự do dân chủ ?

Theo nhà văn Nga Svetlana Alexievitch, dân chủ, tự do đã không thực hiện ở Nga sau khi Liên Bang Xô Viết sụp đổ những năm 1990, vì "chúng tôi, giới trí thức tiến bộ, đã có một thái độ lãng mạn", trong khi xây dựng dân chủ là một tiến trình lâu dài, phải chuẩn bị. Muốn có dân chủ, phải có tổ chức dân chủ, có người dân chủ ( démocrates), văn hoá dân chủ. Dân chủ không từ trên trời rơi xuống

Svetlana Alexievitch, tác giả chiếm giải Médicis-Essai 2013, trong một cuôc phỏng vấn dành cho tập san Philosophie, số Đặc biệt (1), nói "chúng tôi tưởng tự do nằm sau cửa sổ, muốn có, chỉ việc dẹp chế độ Cộng Sản. Khi chúng tôi ngồi thảo luận với nhau trong phòng ăn, chúng tôi nhìn sự việc như vậy. Những người Cộng sản đã ra đi dễ dàng một cách đáng ngạc nhiên, không hề chống cự. Chỉ sau này, chúng tôi mới hiểu họ chỉ cần hoạt động ngầm cũng đủ để trở lại nắm quyền.’’

Bà Alexievitch, một nhà văn có cái nhìn sắc bén, là tác giả của nhiều cuốn sách về xã hội hậu Cộng sản ở Nga (2)  mà những người tranh đấu cho dân chủ ở Việt Nam nên đọc, để tránh khỏi cái bi kịch dã tràng, bao nhiêu hy sinh, tù đầy mà cuối cùng dân chủ vẫn chỉ là một ảo tưởng.

"Chúng tôi đã có ảo tưởng về một dân tộc chống Cộng, khao khát tự do, dân chủ. Điều đó chỉ có trong đầu chúng tôi (giới trí thức). Khi tự do rơi xuống đầu dân tộc đó, những năm 1990, họ không đổ xô tìm đọc Soljenitsyne hay tìm hiểu sự thực về goulag như chúng tôi tưởng tượng. Họ muốn, trước hết, sống và tiêu thụ. Một số người, mà chúng tôi không nghĩ tới, đã lợi dụng, bám vào trào lưu này đẻ leo lên cầm quyền, như Loukachenko ở Biélorussie năm 1994 hay Poutine ở Nga năm 2000. Tóm lại, chúng tôi đã hoàn toàn không chuẩn bị cho đời sống thực tế. Bởi vì dân chúng không muốn kinh tế tự do (libéralisme). Hãng xưởng đóng cửa, tình trạng thất nghiệp khiến chúng tôi, những người trí thức tự do, đã rất sớm trở thành thiểu số. Hơn nữa, chúng tôi không có chương trình hành động gì cụ thể, ngoài chuyện đẩy Cộng Sản ra khỏi chính quyền. Chúng tôi nghĩ chỉ việc dẹp CS là một bảo đảm cho tự do. Chúng tôi không có một kinh nghiệm gì trong việc xây dựng một xã hội bình thường ; chúng tôi chỉ có kinh nghiệm bạo lực .’’

Svetlana Alexievitch giải thích tại sao ngày nay vẫn còn những người Nga tưởng nhớ chế độ Cộng sản : Khi một nhóm chính trị và kinh tài cướp đoạt, vơ vét hết tài nguyên của đất nước, dân chúng trở thành tay trắng, không nghề nghiệp, không tương lai, họ mơ tưởng trở lại chế độ bao cấp của Cộng sản. Nhất là từ những năm 1990, người ta không còn bị gởi đi goulag, không còn những vụ đàn áp đẫm máu, và đa số dân Nga sống trong xã hội tương đối bình đẳng- tất cả đều nghèo như nhau-lối sống đó thích hợp với nhiều người Nga.

Theo Alievitch, vài năm sau khi chế độ CS bị lật đổ, người Cộng Sản có thể trở lại cầm quyền nếu họ muốn. Trong cuộc bầu cử 1996, bà tin rằng đã có thoả hiệp giữa Eltsine với những người Cộng Sản. CS có thể thắng cử nếu họ muốn, vì họ vẫn chiếm đa số cử tri. Nhưng họ không muốn công khai nắm chính quyền một lần nữa, họ lựa chọn đứng đằng sau đẻ giật dây và trên thực tế vẫn nắm vận mệnh nước Nga. Đó là một chế độ Công sản "giả dạng thường dân", communisme de seconde main, đề tài của cuốn sách La fin de l’homme rouge (3) của Alievtch. Người Cộng sản không mặc áo đỏ nữa, nhưng vẫn nắm quyền.

Thực trạng nước Nga cho thấy những quan sát của Svetlana Alievitch không sai sự thực. Quyền lực nằm trong tay Poutine, một cựu trùm KGB. Tất cả sinh hoạt chính trị, kinh tế đều nằm trong tay những tay cưu KGB đồng lõa với Poutine. Dân chủ Nga chỉ là dân chủ giả hiệu. Tham nhũng cao độ, bất công xã hội cùng cực, kinh tế thị trường man rợ. Những người lợi dụng được chế độ lao đầu vào phong trào tiêu thụ, những người bị gạt ra ngoài xã hội ngồi hối tiếc một xã hội Công sản trong đó không có thất nghiệp và những nhu cầu tối thiểu được nhà nước bao cấp. Trong bối cảnh đó, xây dựng một xã hội dân chủ, tự do là một ảo tưởng, một tiếng kêu giữa sa mạc, một trò giải trí của một thiểu số.

Đó là hiện tượng chung ở những nước hậu Công Sản nghèo, dân trí thấp, như những quốc gia trước đây thuộc liên bang Xô Viết. Hiện tượng đó không có ở Đức hay Ba Lan.

Hiện tương đó không xẩy ra ở Đức bởi vì Đông Đức được Tây Đức gồng mình xây dựng lại theo mô hình Tây Đức, một quốc gia tiến bộ và thịnh vượng nhất Âu Châu. Nhất là một văn hóa dân chủ cao, cao hơn nhiều nước Âu Châu khác, bởi vì họ còn ám ảnh bởi những kỷ niệm đen tối, ghê rợn của những năm độc tài Phát xít, ý thức rằng dân chủ là con đường sống duy nhất. Dân tộc Đức đã đạt một thành quả vĩ đại : đưa một nưả quốc gia từ xã hội độc tài, nghèo đói tới một xã hội dân chủ đích thực.

Hiện tượng đó không xẩy ra ở Ba Lan bởi vì Ba Lan, với trợ cấp khổng lồ của Cộng Đồng Âu Châu, đã xây dựng một nền kinh tế lành mạnh và có khả năng phát triển. Người dân tin ở tương lai. Khi người ta tin ở tương lai, người ta không hối tiếc quá khứ. Adam Michnik, một trí thức đấu tranh cho dân chủ  Ba Lan viết: nếu bạn ghé thăm Ba Lan, sẽ thấy ít có chuyện hồi tưởng chế độ CS. Không có ai muốn quay lại với quá khứ (1).

Chính mô hình Ba Lan hậu Cộng Sản đã khiến những người tranh đấu ở Ukraine nổi loạn.

Ở những xứ khác, dân trí thấp, càng thay đổi càng giống như cũ. Đó là trường hơp những nước cựu Liên bang Xô Viết. Đó là trường hợp của những nước Cách mạng Ả Rập. Cách mạng bùng nổ nhờ những người đầy thiện chí, muốn cải tạo đất nước, nhưng khi cách mạng thành công, chính quyền đều rơi vào tay Hồi giáo (hay Hồi giáo và quân phiệt thay nhau như ở Ai Cập), là những giới có tiền, có người, có tổ chức.  Những nhà tranh đấu bị loại ra ngoài lề không thương tiếc, bằng bạo lực, bằng thủ đoạn gian manh, ngay cả bằng lá phiếu. Những nhóm trí thức tiến bộ thua trong tất cả những cuộc bầu cử vì họ nói một ngôn ngữ mà dân chúng không hiểu. Sau khi Moubarak bị lật đổ, những người đã thăm viếng Ai Cập đều biết tổ chức Huynh Đệ Hồi giáo sẽ thắng cử, mặc dầu họ không có công trạng gì trong việc lật đổ độc tài. Chỉ cần ghé qua những khu bình dân, sẽ thấy những bệnh xá, những quán cơm bình dân rẻ tiền hay miễn phí đều do tổ chức này điều hành. Tunisie, quốc gia có hàng ngũ trung lưu đông đảo, nhờ chính sách giáo dục tiến bộ từ thời Bourguiba, sau khi dành độc lập, nhờ một giới trẻ, nhất là phụ nữ can đảm, đầy nhiệt huyết đã tránh cho Tunisie một hiến pháp sặc mùi Hồi giáo trung cổ, nhưng cuối cùng, quyền hành chính trị hay tài chánh cũng rơi vào tay những nhóm Hồi giáo. Những nhóm khác chỉ còn đôi mắt để khóc.

Những gì xẩy ra ở Nga có thể lập lại ở Việt Nam.  Chế độ CS đổ nhưng vẫn không có dân chủ và người CS vẫn nắm quyền, mặc dầu không mặc áo đỏ nữa. VN có đầy đủ những yếu tố của xã hội Nga: một giai cấp trí thức lãng mạn, (cộng thêm cái thói chia rẽ khủng khiếp, bệnh hoạn độc quyền của dân tộc ta), không chuẩn bị, không tổ chức, một văn hóa dân chủ mơ hồ trong quần chúng, một hàng ngũ Cộng Sản có tổ chức, có lâu la, dư tiền bạc để lũng đoạn các sinh hoạt chính trị . Việt Nam không có Gorbachev, nhưng sẽ có những Poutine, Loukachenko, những tay cựu công an không còn vẽ sao vàng trên trán, nhưng sẽ đổi dạng, complet, cà vạt, xách Samsonite dẫn đầu một lực lượng đáng sợ là tư bản đỏ.

Dân chủ là một tiến trình lâu dài, đòi hỏi những điều kiện khách quan. Một trong những nguyên tắc căn bản : muốn có dân chủ (démocratie), phải có người dân chủ (démocrates). Hàng ngũ những người dân chủ phải đông đảo để bảo vệ khi dân chủ đang thành hình, để những người tranh đấu cho dân chủ không bị cô đơn, những lực lượng phản dân chủ không thể lộng hành.

Muốn có một hàng ngũ những người dân chủ, phải có một giai cấp trung lưu. Bởi vì giai cấp thượng lưu thường thường đồng lõa với chính quyền để bảo vệ quyền lợi. Giai cấp bình dân chỉ nghĩ đến nhu cầu thực tiễn trước mắt là lo ăn, kiếm sống. Giai cấp trung lưu có ý thức, có nhu cầu tự do dân chủ, là giường cột cho bất cứ một xã hội dân chủ nào.

Huấn luyện, đào tạo một văn hoá dân chủ trong giai cấp trung lưu là chuyện cần thiết, lâu dài và cấp bách. Vừa lâu dài vừa cấp bách. Cấp bách vì nước đã đến chân, nếu không muốn nói đã tới cổ. Lâu dài vì nếu La Mã không được xây trong một ngày, xây dưng văn hóa dân chủ còn nhiều đường đất hơn nữa. Một thí dụ : những người cổ võ cho dân chủ không thể chỉ thoả mãn với những lời hô hào suông, những khẩu hiệu rỗng tuyếch đã nhắc đi nhắc lại ngàn lần. Phải có những bài, những sách mổ xẻ cụ thể dân chủ là gì, cần những điều kiện khách quan nào, phải tránh những cạm bẫy nào, tại sao không thể xây dưng lại đất nước nếu không có dân chủ…

Đó là chỉ là một thí dụ nhỏ trên mặt lý thuyết, chưa nói đến vấn đề tổ chức vốn là yếu điểm của người Việt. Nhưng lý thuyết không phải là chuyện vô bổ . Trái lại, đó là nền tảng cho việc xây dựng sau này. Việt Nam, mặc dù với một nền giáo dục ngu dân, lạc hậu, giáo điều, nhờ Internet, du lịch, du học đã có một giai cấp trung lưu. Vấn đề là làm thế nào để biến hàng ngũ trung lưu càng ngày đông đảo trở thành nền móng cho một xã hội dân chủ, trước khi họ trở thành những cái máy tiêu thụ. Đó là vai trò của sách vở, báo chí, truyền thông, và một xã hội dân sự tích cực .

Những nhận xét rất thực tế của những người trong cuộc như Svetlana Alexievitch khiến người Việt phải suy nghĩ nếu không muốn đi vào bánh xe đổ. Cộng sản đổ, chưa chắc đã có ngay dân chủ nếu không chuẩn bị, không có tổ chức, không có ý thức chính trị đứng đắn. Con đường sẽ còn nhiều chông gai.

Đó là một cái nhìn thực tiễn, không phải một cái nhìn bi quan. Dân chủ không ở trên trời rơi xuống, nhưng mặc dù dân chủ chưa thành hình, mặc dù những người cựu CS sẽ còn lộng hành, điều chắc chắn là chủ nghĩa CS đã chết. Svetlana Alexievitch trích dẫn một câu của sử gia Nga Serguei Averintsev : chế độ Cộng Sản "đã xây dựng những cái cầu trên một con sông cuả ngu dốt, nhưng dòng sông ngày nay đã hoàn toàn là dòng sông khác". Bao nhiêu nước đã chẩy dưới cầu, dòng sông không còn là dòng sông cũ, vấn đề là phải xây những cái cầu mới.

TỪ THỨC
( Paris, tháng 4 .2014 )

( 1 ) PHILOSOPHIE Magazine . HORS SERIE Avril 2014. Paris.  La philosophie et le communisme
( 2 ) Svetlana ALEXIEVITCH : La guerre n’a pas un visage de femme ( Ed.La Renaissance.Paris), La fin de l’homme rouge (Ed. Actes Sud, Paris ), Les Cercueils de zinc ( Ed. Christian Bourgeois),  La Supplication. Tchernobyl,chroniques du monde après  l’apocalypse ( Ed. Lattès.Paris
( 3 ) La fin de l’homme rouge ( Actes Sud. Paris )

Đọc thêm

VN War

 1975: Việt Nam có thắng Mỹ?

Trong bài “Thắng và bại”, từ kinh nghiệm chiến tranh ở Iraq, tôi nêu lên nhận định: Thắng và bại là một vấn đề phức tạp, gắn liền với một chu cảnh (context) nhất định. Có khi người ta thắng một trận đánh nhưng lại thua một cuộc chiến tranh; có khi thắng một cuộc chiến tranh nhỏ nhưng lại thua một cuộc chiến tranh lớn. Hoặc ngược lại. Cũng có khi người ta thua hẳn một cuộc chiến tranh nhưng lại thắng trong hòa bình, sau đó.

Từ chuyện thắng và bại, nhân tháng Tư, thử nhìn lại chiến tranh Việt Nam giai đoạn 1954-75.

Liên quan đến cuộc chiến tranh ấy, cho đến nay, hầu như mọi người đều khẳng định: Việt Nam (hiểu theo nghĩa là miền Bắc Việt Nam) đã thắng Mỹ. Bộ máy tuyên truyền Việt Nam lúc nào cũng ra rả điều đó. Ngay người Mỹ cũng tự nhận là họ thua: Đó là cuộc chiến tranh đầu tiên mà họ thua trận! Điều đó đã trở thành một chấn thương dữ dội đối với một siêu cường quốc số một thế giới như Mỹ khiến nhiều người trong họ không ngừng trăn trở. Chiến tranh Việt Nam, do đó, với họ, trở thành một cuộc-chiến-chưa-kết-thúc (unfinished war) hoặc một chiến tranh vô tận (endless war) theo cách gọi của các học giả.
Dĩ nhiên, nhiều người nghĩ khác. Họ không chấp nhận họ thua trận với một trong ba lý do chính.

Một, một số người cho, về phương diện quân sự, quân đội Mỹ hầu như luôn luôn chiến thắng, hơn nữa, tính trên tổng số thương vong, họ bị thiệt hại ít hơn hẳn đối phương: trong khi Mỹ chỉ có 50.000 người chết, phía miền Bắc, có khoảng từ một triệu đến một triệu rưỡi người bị giết (từ phía người Việt Nam, chúng ta biết rõ điều này: Trong đó có rất nhiều dân sự ở cả hai miền!) Những người này cho họ chỉ thua trên mặt trận chính trị; và trong chính trị, họ không thua Bắc Việt, họ chỉ thua… những màn ảnh tivi hằng ngày chiếu những cảnh chết chóc ghê rợn ở Việt Nam trước mắt hàng trăm triệu người Mỹ, từ đó, làm dấy lên phong trào phản chiến ở khắp nơi. Nói cách khác, Mỹ không thua Bắc Việt: Họ chỉ thua chính họ, nghĩa là họ không thể tiếp tục kéo dài chiến tranh trước sự thiếu kiên nhẫn của quần chúng, trước quyền tự do ngôn luận và phát biểu của quần chúng, trước nhu cầu phát triển kinh tế trong nước.

Hai, một số người khác lại lý luận: Mặc dù Mỹ thua trận năm 1975, nhưng nhìn toàn cục, họ lại là người chiến thắng. Một người Mỹ gốc Việt, Viet D. Dinh, giáo sư Luật tại Đại học Georgetown University, trên tạp chí Policy Review số tháng 12/2000 và 1/2001, quan niệm như vậy, trong một bài viết có nhan đề “How We Won in Vietnam” (tr. 51-61): “Chúng ta thắng như thế nào tại Việt Nam.” Ông lý luận: Mỹ và lực lượng đồng minh có thể thua trận tại Việt Nam nhưng họ lại thắng trên một mặt trận khác lớn hơn và cũng quan trọng hơn: Cuộc chiến tranh lạnh chống lại chủ nghĩa Cộng sản trên toàn thế giới (tr. 53). Hơn nữa, cùng với phong trào đổi mới tại Việt Nam cũng như việc Việt Nam tha thiết muốn bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Mỹ, Mỹ cũng đã thắng trên mặt trận lý tưởng và thiết chế: Cuối cùng thì Việt Nam cũng đã theo Mỹ ít nhất một nửa: tự do hóa thị trường (Còn nửa kia, dân chủ hóa thì chưa!) (tr. 61).
Một số người khác lại cho, sau khi rút quân khỏi Việt Nam, nhìn lại, người Mỹ thấy Việt Nam đang lủi thủi chạy theo sau mình trên con đường tư bản hóa. Họ khẳng định:  “Chúng ta đã chiến thắng cuộc chiến tại Việt Nam bằng cách rút quân ra khỏi nơi đó.”

Ba, một số người khẳng định dứt khoát: Mỹ không hề thua Bắc Việt. Chiến thắng của miền Bắc vào tháng Tư 1975 là chiến thắng đối với miền Nam chứ không phải đối với Mỹ. Lý do đơn giản: Lúc ấy, hầu hết lính Mỹ đã rút khỏi Việt Nam. Trước, ở đỉnh cao của cuộc chiến, Mỹ có khoảng nửa triệu lính ở Việt Nam. Sau Tết Mậu Thân, thực hiện chính sách Việt Nam hóa chiến tranh, lính Mỹ dần dần rút khỏi Việt Nam: Tháng 8/1969, rút 25.000 lính; cuối năm, rút thêm 45.000 người nữa. Đến giữa năm 1972, lính Mỹ ở Việt Nam chỉ còn 27.000. Tháng 3/1973, 2.500 người lính cuối cùng rời khỏi Việt Nam. Từ đó, ở Việt Nam, Mỹ chỉ còn khoảng 800 lính trong lực lượng giám sát đình chiến và khoảng gần 200 lính Thủy quân lục chiến bảo vệ Tòa Đại sứ ở Sài Gòn. Trong trận chiến cuối cùng vào đầu năm 1975, lúc Bắc Việt tiến vào Sài Gòn, không có cuộc giao tranh nào giữa Việt Nam và Mỹ cả. Chính vì vậy, một số người Mỹ đặt câu hỏi: Tại sao có thể nói là chúng ta thua trận khi chúng ta đã thực sự chấm dứt cuộc chiến đấu cả hơn hai năm trước đó?

Có thể tóm tắt lập luận thứ ba ở trên như sau: Trong chiến tranh Việt Nam, Mỹ chỉ bỏ cuộc chứ không thua cuộc.

Một số người phản bác lập luận ấy. Họ cho: bỏ cuộc tức là không hoàn thành được mục tiêu mình đặt ra lúc khai chiến; không hoàn thành mục tiêu ấy cũng có nghĩa là thua cuộc. Không có gì khác nhau cả.

 Nhưng ở đây lại nảy ra một vấn đề: Mục tiêu Mỹ đặt ra lúc tham gia vào chiến tranh Việt Nam là gì?

Có hai mục tiêu chính:
Một, giúp đỡ chính quyền Việt Nam Cộng Hòa tại miền Nam trong cuộc đối đầu với chế độ Cộng sản ở miền Bắc.

Hai, ngăn chận làn sóng Cộng sản từ Trung Quốc đổ xuống Việt Nam, và từ đó, toàn bộ vùng Đông Nam Á.

Tập trung vào mục tiêu thứ nhất, nhiều người cho Mỹ thua trận ở Việt Nam. Đó là điều không thể chối cãi được: cuối cùng, vào ngày 30/4/1975, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đã sụp đổ.

Tuy nhiên, xin lưu ý: trong hai mục tiêu trên, mục tiêu thứ hai mới là quan trọng nhất. Khi lính Mỹ mới được điều sang Việt Nam, họ luôn luôn được nhắc nhở đến mục tiêu thứ hai: “Nếu chúng ta không đến đây để ngăn chận sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng sản, chúng ta có thể sẽ phải chiến đấu chống lại nó ở San Francisco sau này.” Mục tiêu đầu, nhằm xây dựng một chế độ dân chủ không Cộng sản ở miền Nam, chỉ thỉnh thoảng mới được nhắc đến.

Có thể nói mục tiêu thứ nhất được đặt ra để cụ thể hóa mục tiêu thứ hai. Nói cách khác, chính vì muốn ngăn chận sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng sản, Mỹ mới nhảy vào giúp chính quyền miền Nam. Mục tiêu thứ nhất, như vậy, chỉ là hệ luận của mục tiêu thứ hai. Nó chỉ là mục tiêu phụ.

Liên quan đến mục tiêu thứ hai, nên nhớ đến thuyết Domino vốn xuất hiện từ năm 1951, thời kỳ đầu của chiến tranh lạnh, và được xem là nền tảng lý thuyết cho các chính sách đối ngoại của Mỹ kể từ đầu thập niên 1960 trở đi. Dựa trên thuyết Domino, chính phủ Mỹ tin là: Nếu Đông Dương rơi vào tay Cộng sản, Miến Điện và Thái Lan sẽ bị Cộng sản chiếm gần như ngay tức khắc. Sau đó, sẽ rất khó khăn, nếu không muốn nói là bất khả, để cho Indonesia, Ấn Độ và các nước khác tiếp tục nằm ngoài quỹ đạo thống trị của Cộng sản Xô Viết.” Nghĩ như thế, chính phủ Mỹ đã xem Miền Nam như một tiền đồn để ngăn chận hiểm họa cộng sản.

Nếu chỉ nhìn vào mục tiêu thứ hai này – mục tiêu ngăn chận làn sóng Cộng sản ở Đông Nam Á – không thể nói là chính phủ Mỹ thất bại. Ngược lại. Năm 1972, sau chuyến viếng thăm Trung Quốc của Tổng thống Nixon, Mỹ đã thành công ở ba điểm: Một, bước đầu bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa hai nước để, tuy chưa hẳn là bạn, họ cũng không còn thù nghịch với nhau như trước nữa; hai, khoét sâu mối mâu thuẫn giữa Trung Quốc và Liên Xô để hai nước đứng đầu khối Cộng sản này không còn thống nhất với nhau; và ba, làm giảm bớt sự ủng hộ và trợ giúp của Trung Quốc đối với Bắc Việt.

Với ba sự thành công ấy, Mỹ an tâm được ba điều: Một, khi Trung Quốc và Liên Xô đã bị phân hóa, khối Cộng sản không còn mạnh và do đó, cũng không còn quá nguy hiểm như trước.

 Hai, khi khối Cộng sản không còn mạnh, đặc biệt khi Trung Quốc đang rất cần duy trì quan hệ hòa bình với Mỹ để phát triển kinh tế và tranh giành ảnh hưởng với Liên Xô, Trung Quốc sẽ không còn tích cực “xuất cảng cách mạng” ở các nước khác trong vùng Đông Nam Á.

Và ba, như là hệ quả của hai điều trên, Mỹ tin chắc: ngay cả khi miền Bắc chiếm được miền Nam và ngay cả khi cả Campuchia và Lào đều rơi vào tay Cộng sản thì chủ nghĩa Cộng sản cũng không thể phát triển sang các nước khác như điều họ từng lo sợ trước đó.

Với ba sự an tâm trên, Mỹ quyết định rút quân ra khỏi Việt Nam. Với họ, mục tiêu thứ hai, tức mục tiêu quan trọng nhất, đã hoàn tất thì mục tiêu thứ nhất trở thành vô nghĩa. Miền Nam chỉ còn là một nước cờ chứ không phải là một ván cờ. Họ thua một nước cờ nhưng lại thắng cả một ván cờ.

Thắng ở ba điểm:
Một, sau năm 1975, chủ nghĩa Cộng sản không hề phát triển ra khỏi biên giới Lào và Campuchia. Các nước láng giềng của Đông Dương vẫn hoàn toàn bình an trước hiểm họa Cộng sản.

Hai, sau khi chiếm miền Nam, chủ nghĩa Cộng sản ở Á châu không những không mạnh hơn, mà ngược lại, còn yếu hơn hẳn. Yếu ở rất nhiều phương diện. Về kinh tế, họ hoàn toàn kiệt quệ. Về quân sự, họ liên tục đánh nhau. Về đối nội, họ hoàn toàn đánh mất niềm tin của dân chúng, từ đó, dẫn đến phong trào vượt biên và vượt biển rầm rộ làm chấn động cả thế giới. Về đối ngoại, họ hoàn toàn bị cô lập trước thế giới với những hình ảnh rất xấu: Ở Khmer Đỏ là hình ảnh của sự diệt chủng; ở Việt Nam là hình ảnh của sự độc tài và tàn bạo; ở Trung Quốc, sự chuyên chế và lạc hậu. Cuối cùng, về ý thức hệ, ở khắp nơi, từ trí thức đến dân chúng, người ta bắt đầu hoang mang hoài nghi những giá trị và những tín lý của chủ nghĩa xã hội: Tầng lớp trí thức khuynh tả Tây phương, trước, một mực khăng khăng bênh vực chủ nghĩa xã hội; sau, bắt đầu lên tiếng phê phán sự độc tài và tàn bạo của nó. Một số trí thức hàng đầu, như Jean-Paul Sartre, trở thành những người nhiệt tình giúp đỡ những người Việt Nam vượt biên.

Ba, vào năm 1990, với sự sụp đổ của Liên Xô, của bức tường Berlin và của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, Mỹ toàn thắng trong cuộc chiến chống lại chủ nghĩa Cộng sản. Ván cờ kéo dài nửa thế kỷ giữa chủ nghĩa Cộng sản và chủ nghĩa tư bản đã kết thúc.

Nhìn vào ba sự thành công ấy, khó có thể nói Mỹ đã thua trận ở Việt Nam. Lại càng không thể nói là miền Bắc Việt Nam đã thắng Mỹ.

Cũng cần lưu ý đến những sự thay đổi trong bản chất của chiến tranh. Từ giữa thế kỷ 20 trở về trước, hầu hết các chiến lược gia, khi nghĩ về chiến tranh, đều cho cái đích cuối cùng là phải chiến thắng một cách tuyệt đối. Tiêu biểu nhất cho kiểu chiến thắng tuyệt đối ấy là cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất và lần thứ hai. Ở cả hai lần, những kẻ thù của phe Đồng minh đều tuyên bố đầu hàng. Ranh giới giữa thắng và bại rất rõ. Rõ nhất là ở Nhật Bản. Sức tàn phá kinh hồn của hai trái bom nguyên tử do Mỹ thả xuống Hiroshima và Nagasaki đã chứng tỏ sức mạnh vô địch không thể chối cãi được của người chiến thắng.

Tuy nhiên, sau hai quả bom ấy, bản chất chiến tranh và cùng với nó, ý nghĩa của chiến thắng, hoàn toàn thay đổi. Trong chiến tranh lạnh, cả Mỹ lẫn Liên Xô đều có bom nguyên tử. Lúc nào cũng muốn tiêu diệt nhau nhưng cả hai đều biết rất rõ cái điều Albert Einstein từng cảnh cáo: “Tôi không biết trong chiến tranh thế giới lần thứ ba người ta đánh bằng gì, nhưng trong chiến tranh thế giới lần thư tư, người ta sẽ chỉ có thể đánh nhau bằng gậy và đá.” Thành ra, người ta vừa chạy đua chế tạo thật nhiều, thật nhiều vũ khi nguyên tử vừa biết trước là chúng sẽ không được sử dụng. Không nên được sử dụng. Không thể được sử dụng. Để tránh điều đó, chiến tranh toàn diện (total war) biến thành chiến tranh giới hạn (limited war); chiến tranh thế giới biến thành chiến tranh khu vực, ở một số điểm nóng nào đó. Ý nghĩa của cái gọi là chiến thắng, do đó, cũng đổi khác: bên cạnh cái thắng/bại về quân sự có cái thắng/bại về chính trị và bên cạnh cái thắng/bại có tính chiến thuật có cái thắng/bại có tính chiến lược.
Với những thay đổi ấy, chuyện thắng hay bại lại càng trở thành phức tạp hơn.


Phần kết luận, có hai điểm tôi xin nói cho rõ:

Thứ nhất, tôi chỉ muốn tìm hiểu một sự thật lịch sử chứ không hề muốn bênh vực cho Mỹ.

Thứ hai, dù Mỹ thắng hay bại, sau biến cố tháng 4/1975, miền Nam vẫn là nạn nhân. Trên phạm vi quốc tế, ngoài miền Nam Việt Nam, Đài Loan là một nạn nhân khác, tuy không đến nỗi bất hạnh như chúng ta.

Wednesday, April 16, 2014

VN

Mỗi năm Việt Nam chi 6 tỉ Mỹ kim chỉ để trả lãi 


HÀ NỘI (NV) .- Một chuyên gia kinh tế tại Việt Nam vừa lên tiếng cảnh báo về nguy cơ vỡ nợ ngay sau khi Thủ tướng CSVN phê duyệt “Kế hoạch vay và trả nợ năm 2014”.



Các trụ xây dựng dở dang cho đường sắt trên cao ở trung tâm thành phố Hà Nội. Dự án dùng vốn vay ODA của Nhật, bị trì hoãn vì nhiều lý do giữa lúc nợ công của Việt Nam ngày một gia tăng. (Hình: HOANG DINH NAM/AFP/Getty Images)

Theo “Kế hoạch vay và trả nợ năm 2014”, năm nay Việt Nam sẽ vay thêm 400 ngàn tỉ đồng (tương đương 20 tỉ Mỹ kim). Ông Phạm Thế Anh, Chủ nhiệm Bộ môn Kinh tế vĩ mô  của Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội, nhận định, 400 ngàn tỉ tương đượng 10% GDP và việc vay thêm tiền là nhằm để trang trải các khoản đã đến hạn  phải trả nợ gốc và trả lãi.

Năm ngoái Việt Nam vay thêm 200 ngàn tỉ đồng. Năm nay, tăng gấp đôi do nợ nần càng lúc càng lớn. Trong 400 ngàn tỉ đồng dự kiến sẽ vay, có 70 ngàn tỉ đồng (tương đương 3 tỉ Mỹ kim) là để “đảo nợ”. “Đảo nợ” là cách gọi việc vay thêm để trả những khoản nợ từng vay nhưng không trả nổi. Ông Anh nhận định, những số liệu vừa kể cho thấy sức ép nợ nần cộng với thâm hụt ngân sách đang rất lớn.

Năm ngoái, chế độ Hà Nội cho biết, tính đến hết năm 2012, nợ nần của Việt Nam chiếm 55.7% GDP. Bởi Quốc hội Việt Nam cho phép chính phủ được vay khoản tiền tương đượng 65% GDP, nên Bộ Tài chính Việt Nam khẳng định, nợ nần đang ở mức an toàn.

Giống một số chuyên gia kinh tế khác, ông Phạm Thế Anh phản bác quan điểm cho rằng, nợ nần của Việt Nam đang ở mức an toàn, bởi nếu cộng cả nợ nần của khối doanh nghiệp quốc doanh, nợ nần của Việt Nam đã vượt xa ngưỡng 65% GDP.

Ông Anh khuyến cáo, trong bối cảnh thâm hụt ngân sách và đầu tư tràn lan như hiện nay, không nên đặt vấn đề tỉ lệ nợ tính trên GDP bao nhiêu phần trăm là an toàn nữa. Điều cần phải xem xét là tốc độ gia tăng nợ nần như hiện nay có ảnh hưởng tới phát triển bền vững hay không.

Theo tính toán của ông Anh, cứ tạm chấp nhận Việt Nam đang gánh khoản nợ khoảng 55.7% GDP thì khoản nợ này tương đương 90 tỉ Mỹ kim. Nếu một nửa khoản này (45 tỉ Mỹ kim) là nợ vay trong nước và lãi suất chừng 10%/năm thì mỗi năm, Việt Nam phải trả lãi khoảng 4 đến 5 tỉ Mỹ kim. Nửa còn lại (45 tỉ Mỹ kim) vay nước ngoài và lãi suất chừng 2.5%/năm thì mỗi năm phải trả lãi hơn 1 tỉ Mỹ kim nữa. Như vậy, chưa tính nợ gốc, mỗi năm, riêng tiền lãi, Việt Nam đã mất 6 tỉ Mỹ kim.




Biểu đồ khoản nợ mà nhà cầm quyền CSVN phải trả hàng năm từ 2010 đến nay cho thấy chỉ trong vòng bốn năm, nợ phải trả tăng khoảng 2.5 lần. (Hình: Tuổi Trẻ)

Ông Anh lưu ý vì số nợ mà chế độ Hà Nội công bố chính thức (55.7% GDP, tương đương 90 tỉ Mỹ kim), không bao gồm những khoản nợ mà nhà cầm quyền trung ương còn thiếu nhà thầu các công trình xây dựng (ước đoán lên tới 45 ngàn tỉ), nợ của khối doanh nghiệp nhà nước (ước đoán 1 triệu 600 ngàn tỉ, tương đương 80 tỉ Mỹ kim) nên tổng nợ thực đã vượt quá 100% GDP và ít nhất cũng đang ở mức 180 tỉ USD. Khoản nợ khổng lồ này gấp bốn lần tổng thu ngân sách hàng năm của Việt Nam.

Ông Anh chỉ trích quan điểm của Bộ Tài chính Việt Nam rằng, nợ nần của Việt Nam không đáng lo bởi đó là vay để đầu tư. Theo ông Anh, nếu xem xét kế hoạch ngân sách năm nay thì tổng thu ngân sách thấp hơn mức “chi thường xuyên”, thành ra chuyện vay mượn là để tiêu dùng chứ không phải vay để đầu tư, phát triển.

Ông Anh cảnh báo, nếu tốc độ vay tiếp tục cao hơn tốc độ tăng nguồn thu cho ngân sách, Việt Nam sẽ phải vay càng ngày càng nhiều để trả nợ cũ. Bởi chuyện vay nợ không phải là vô hạn. Nếu vì lý do gì đó không thể vay đủ theo nhu cầu thì Việt Nam sẽ vỡ nợ. (G.Đ)

Tuesday, April 15, 2014

Computer

COPY & PASTE.

Tùng Linh's photo.
"Nếu phải bầu chọn thuật ngữ tiếng Anh được sử dụng nhiều nhất trong xã hội Việt Nam hiện đại, và trong phần phương án có “copy và paste”, thì hẳn rất nhiều người sẽ tích vào cặp từ đó.

Trên trang Quora.com, có một người đặt hỏi: “Thứ gì bị đánh giá thấp một cách không đúng đắn nhất trong cuộc sống?”. Một người nhảy vào và trả lời: “Lawrence G. Tesler”. Một câu trả lời thú vị. Không mấy người biết đến tên người đàn ông này, nhưng trong trung tâm nghiên cứu của hãng Xerox ở thập kỷ 70, Larry Tesler đã tạo ra một thứ cực kỳ quan trọng trong cuộc sống của loài người hiện đại: phương thức “copy và paste” trong xử lý văn bản trên máy vi tính.

Khái niệm ấy quan trọng đến mức bất kỳ ai sử dụng thành thạo máy vi tính cũng hiểu được nó mà không cần phải dịch. Họ có thể không giỏi tiếng Anh, nhưng họ sẽ không dùng cụm từ Việt hóa là “sao chép và dán”. Copy và paste là copy và paste. Cũng hầu như, nó được phát âm liền mạch theo tiếng Anh là copy and paste.
Giảng viên dùng nó để soạn giáo trình. Sinh viên dùng nó để viết tiểu luận và thậm chí là cả khóa luận. Sau khi ra trường, họ sử dụng nó để làm việc. Từ những thứ đơn giản nhất như là soạn thảo hợp đồng trong các ngành thương mại hay kỹ thuật, cho đến những nghề thuần túy viết lách như là phóng viên, cũng sử dụng copy và paste.

Mấy ngày trước có một bài báo trên một tờ báo ngành khá nổi tiếng nói về facebook với “đủ các kiểu lừa đảo, trộm cắp”. Nhưng rồi những độc giả khó tính phát hiện ra phải có đến non nghìn chữ trong bài báo ấy giống hệt với các đoạn trong nhiều bài trên báo Nhân Dân trước đó. Đấy, copy and paste kỳ diệu đến mức người ta có thể sử dụng nó để nói về việc lừa đảo và trộm cắp mà không có ý thức rằng mình đang làm việc đó.

Hoặc giả cách đây vài tháng, bỗng nhiên người ta phát hiện ra hàng loạt các tờ báo lớn nhỏ trong cả nước cùng viết sai chính tả một từ rất quan trọng. Lại cũng là copy and paste mà thôi.
Copy và paste là một thao tác hữu ích, nhưng cũng giống như mọi thứ tiện nghi mà xã hội hiện đại mang đến cho con người, giới hạn sử dụng là cực kỳ quan trọng. Việc lạm dụng nó có thể giết chết tư duy lúc nào không hay.Khi “đạo văn” mang một cái tên gọi rất chi là thân thiện, copy and paste, người ta bỗng nhiên quên khuấy đi mình là thằng ăn cắp. Không biết có bao nhiêu bạn sinh viên, nhà nghiên cứu, anh phóng viên và chị thư ký đã sống phụ thuộc vào nó, để rồi khả năng tự vận động chết dần chết mòn đi với cử động của ngón tay trỏ, từ phím C sang phím V (cái quy ước này là một sản phẩm của hãng Apple nhé), hai phím sát nhau, nhanh như chớp. Rồi họ trở thành một cỗ máy bị động và ngu si dần đi.

 Trong một xã hội mà khả năng tự tư duy không hề lên ngôi, không hề được tôn vinh, thì copy and paste lại càng trở nên lộng hành đến mức không kiểm soát nổi. Một thông tin, một phân tích được đăng lên mạng bây giờ, truy ra được nguồn gốc chính xác có mà mất cả ngày. 


Tùng Linh's photo.
Thời mà Larry Tesler nghĩ ra phương thức copy và paste, có lẽ ông chỉ hướng tới một thao tác giúp tiết kiệm thời gian cho người soạn thảo văn bản. Nhưng bây giờ, trong những xã hội biếng lười suy nghĩ, nó trở thành thao tác giúp tiết kiệm được khá nhiều chất xám, tiết kiệm được vô khối lòng tự trọng.

Và copy and paste, tất nhiên đâu có dừng lại ở các văn bản. Nó đang có xu hướng trở thành một biểu tượng cho một phương thức tư duy.

Đức Hoàng
(Docbao.vn)
@Facebook/TungLinh